Hiển thị các bài đăng có nhãn Trương Văn Tân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trương Văn Tân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 13 tháng 6, 2023

Trân Châu và Linh Địa Nhật Bản

Khi muốn đi tìm nguồn cội của nền văn hóa và linh hồn Nhật Bản thì có lẽ bán đảo Kii ở phía nam hai thành phố Osaka và Kyoto là nơi cho nhiều thông tin tham khảo. Từ Tokyo tôi lái xe dọc theo con đường Tokaido (Đông hải đạo) rồi rẽ vào bán đảo Kii ở phía Nam thành phố Nagoya thì đến thành phố Yokka-ichi cửa ngõ đi vào bán đảo Kii. Yokka-ichi từng là biểu tượng cho sự hùng mạnh của nền kinh tế Nhật Bản trong thời kỳ phát triển cao độ ở thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước. Nhưng Yokka-ichi cũng là biểu tượng của ô nhiễm vì những cơ sở công nghiệp nặng, nhà máy lọc dầu có mặt khắp nơi ở thành phố này. Khói nhà máy đã từng phủ lấp bầu trời. Ngày nay, ô nhiễm đã biến mất, những chiếc ống khói khổng lồ đã từ lâu tắt khói, bầu trời thành phố trong xanh trở lại, những đàn cá nhỏ lượn lờ trong dòng sông trong veo nhìn thấy đáy.

Con đường cổ Tokaido như một vệt cắt phân đôi hai miền. Phía bắc của con đường này là bình nguyên Kansai bao gồm nhiều thành phố quan trọng kéo dài từ Nagoya đến Kyoto và Osaka nhộn nhịp với những hoạt động kinh doanh hừng hực sức sống của một nền kinh tế hùng mạnh nhất nhì vùng Đông Á. Miền phía nam là vùng sơn địa của bán đảo Kii chập chùng rừng núi. Càng đi về phía nam bán đảo, cảnh quan nhộn nhịp với những chiếc xe tải ầm ĩ ngược xuôi và những chiếc tàu hàng khổng lồ ở các bến cảng dần dần được thay thế bởi màu xanh của cây rừng và màu xanh của biển với những ngọn sóng bạc đầu lung linh phản chiếu trong ánh nắng mặt trời. Núi đồi tập trung ở trung tâm bán đảo tạo nên một vùng chắn thiên nhiên mà cho đến đầu thế kỷ 20 khu vực phía nam bán đảo (tỉnh Wakayama ngày nay) vẫn là một nơi cô lập tách rời ra khỏi phần còn lại của Nhật Bản. Ngày xưa người Nhật xem vùng này như là "cô đảo" (hòn đảo cô lập) của đất liền. Muốn đến đây người ta phải đi bộ vượt thác băng rừng.

Có di chuyển bằng xe hơi, mới biết được Nhật Bản không chỉ có rừng, núi, biển, đảo mà còn có sông rạch. Núi phải gắn liền với khe suối để nước mưa có thể thoát ra biển, nên trong tiếng Hán Việt có từ "sơn khê". Nhiều khe suối nhỏ hợp lưu tạo nên những dòng sông. Phần lớn những con sông Nhật không phải trường giang dài rộng như dòng Mekong mà chỉ có bề rộng trung bình vài mươi mét. Núi rừng chiếm gần 90% diện tích nước Nhật nên không gì ngạc nhiên khi Nhật có hơn 13.000 ngọn núi và 20.000 con sông dài ngắn khác nhau. Địa lý đa dạng đi cùng vùng miền nên các địa danh Nhật thường có tên gắn liền với những từ như kawa (sông), hama (bờ biển), yama (núi), oka (đồi), mori (rừng), shima (đảo).

Ngày nay, những đường hầm xuyên núi đã khắc phục được khó khăn giao thông, đem văn minh đến vùng cực nam bán đảo Kii. Khi đi vào vùng đồi núi xe phải xuyên qua hơn 20 con đường hầm, có những hầm dài hun hút hơn 4 km, hầm ngắn vài trăm mét nối tiếp nhau trên tuyến đường dài 100 km. Giữa hai hòn núi thỉnh thoảng có dòng sông nhỏ chảy ngang một thung lũng bằng phẳng. Trên đó làng xóm mọc lên tạo nên một bức tranh đồng quê Nhật Bản yên tĩnh mộc mạc với núi rừng.

Đi ngang dọc hơn 1500 km trên bán đảo Kii dừng chân tại thị trấn Toba, thành phố Ise, thị trấn Koyasan và một số vùng lân cận, tôi tìm hiểu địa hình và những nét văn hóa lịch sử tại đây mà người Nhật gọi là "Linh địa". Mỗi nơi mang một sắc thái riêng biệt đã cho tôi nhiều cảm hứng và suy tư khác nhau. Lúc thì hồn nhiên chìm đắm trong các ý tưởng khoa học của quá trình cấy ngọc trai ở Toba, lúc thì cố gắng lý giải triết lý Phật học khi đặt chân đến linh địa Koyasan, lúc thì bức xúc quan tâm đến môi trường khi đi qua những cảnh quan hùng vĩ. Những quãng đường dài mà tôi lang thang đi qua đã mang đến cho tôi nhiều xúc cảm mênh mang trong một niềm vui bình dị. Bây giờ, tôi muốn lang thang chữ nghĩa cùng bạn đọc để chia sẻ những cảm xúc đó bằng những dòng chữ tản mạn theo nhịp dao động tùy hứng vui buồn của con tim.


Trân châu Toba

Dọc theo bờ biển phía đông của bán đảo đi về phía nam là thị trấn Toba và thành phố Ise. Nơi này có những trại nuôi tôm hùm Ise nổi tiếng trong ẩm thực Nhật Bản và trại nuôi hàu để thu hoạch ngọc trai. Bờ biển vùng này được tạo bởi nhiều vịnh hẹp ngoằn ngoèo đi sâu vào đất liền, quanh năm khí hậu ôn hòa, ít gió to sóng dữ, nước biển trong xanh. Ngọc trai còn có tên là "trân châu" là món trang sức quyến rũ và sang trọng như kim cương, thứ mà từ ngàn xưa đã làm mê mệt phái đẹp ở mọi giai cấp từ nữ hoàng đến thứ dân, trong mọi thời đại từ Cleopatra đến Elizabeth II. Nhưng việc tạo ngọc trai phó mặc cho trời trong cơ thể con hàu thì chưa bao giờ cho ra những viên ngọc tròn hay những hình thể mà con người yêu thích.


Trong lòng biển của con vịnh hẹp ngoằn ngoèo
có nhiều trại nuôi hàu cấy ngọc.(Ảnh: Truong)

Mikimoto Kokichi sinh ra và lớn lên tại Toba vào giữa thế kỷ 19 (thời Minh Trị) là một nhân vật cách mạng hóa việc cấy ngọc trai. Ông là con trưởng của người bán mì udon nghèo khó. Ngày ngày ông nhìn thấy ama (hải nữ), những phụ nữ chuyên nghiệp lặn bắt hải sản, ngọc trai theo truyền thống Nhật trong vùng biển Toba. Khi nhìn những hạt ngọc trai tự nhiên nhiều màu sắc nhưng hình dạng xấu xí ông nảy ra ý định làm ra viên ngọc trai tròn cân đối. Ông đã cấy được những ngọc trai hình cầu sau 12 năm mày mò nghiên cứu. Cơ bản việc cấy ngọc trai là để vào cơ thể con hàu một vật làm "nhân" như một chất nền. Khi dị vật được đặt vào cơ thể con hàu thì nó tự động phủ lên vật này những lớp xa cừ (nacre) như một cách phòng vệ. Tiếc rằng những hạt cát hiện diện trong lòng biển hay sông quá nhỏ để con hàu cảm nhận. Nếu chúng cảm nhận được, có thể con ngươi đã thu hoạch được vô số cát xa cừ!

Xa cừ chứa phần lớn hợp chất canxi cacbonat có thành phần giống như viên phấn viết bảng. Điều này cũng không khác gì kim cương có một nguồn gốc khiêm tốn là tập hợp của các nguyên tử cacbon. Con hàu "thông minh" biết tạo những lớp xa cừ cứng bằng công nghệ nano, trong khi viên phấn do con người tạo nên chỉ là hạt canxi cacbonat bời rời. Mỗi lớp xa cừ có cấu tạo như bức tường gạch của người thợ nề, với những viên gạch nano canxi cacbonat được gắn dính vào nhau bằng chất protein như xi măng. Lớp tường nano này có độ cứng 3000 lần lớn hơn viên phấn. Màu sắc của xa cừ sặc sỡ giống như bọt xà phòng là do sự phản xạ ánh sáng từ các lớp xa cừ có độ dày mỏng khác nhau. Để ngọc trai có một màu đồng nhất thì độ dày phải đồng nhất bao gồm những màu trong ánh sáng thấy được từ màu hồng đến màu xanh. Cuộc đời sẽ rất chán nếu mọi thứ chỉ có một màu. Cũng như kim cương, con người cũng muốn có ngọc trai nhiều màu khác nhau, nhất là màu hồng hay màu xám đen. Con hàu sông cho màu ngọc trai khác con hàu biển. Tương tự, hàu ở đại dương này khác hàu đại dương kia. Phẩm màu thiên nhiên chứa trong cơ thể con hàu là những khoáng chất hóa học và khoáng chất này thay đổi theo vùng miền cho ra những màu khác nhau. Việc tìm ra cơ chế để điều chỉnh màu thiên nhiên của ngọc trai vẫn là đề tài nghiên cứu khoa học sôi động trong sinh học phân tử. Đơn giản, những loại nghiên cứu này là thứ làm ra tiền, và rất nhiều tiền. Quả thật, nhiệt tình yêu thích ngọc trai và sự hào phóng chi trả của chị em phái đẹp đã thành động lực chính thúc đẩy việc nghiên cứu sinh học cũng như sinh lý học của con hàu, con trai, bào ngư từ thời đại của Mikimoto; mà cho đến ngày nay vẫn chưa chấm dứt.

Công ty Mikimoto trở thành thương hiệu nổi tiếng thế giới hơn nửa thế kỷ và chiếm thị phần toàn cầu hơn 50%. Nữ hoàng Elizabeth II nước Anh từng lặn lội đến thị trấn Toba nhỏ bé này để viếng xưởng ngọc trai Mikimoto. Khi bước vào Viện Bảo tàng Trân châu Mikimoto tại thị trấn Toba, điều tôi muốn biết là cái nhân hình cầu làm từ chất liệu gì, phải chăng từ plastic? Tôi được cô chuyên gia của Viện trả lời rằng, "Công ty chúng tôi không dùng plastic làm nhân mà chỉ dùng vỏ của con hàu nước ngọt sông Mississippi tại Mỹ. Sau đó gia công thành hình cầu hay các dạng khác nhau", "Tại sao phải là hàu Mississippy?", tôi hỏi tiếp. Câu trả lời rất đơn giản, "Tại vì con hàu này có vỏ dày nhất trong các loại hàu". Bề dày vỏ hàu sông Mississippi có thể đạt đến 15 mm và cũng là giới hạn cùa đường kính ngọc trai. Tôi rất thú vị với câu trả lời, vì việc dùng vỏ con hàu Mỹ làm nhân cho con hàu Nhật phủ lớp xa cừ tạo ra ngọc trai là một phương pháp công nghệ sinh học rất độc đáo. Nó là vừa là công nghệ "xanh" (green technology) vừa mô phỏng thiên nhiên giống như con bào ngư phủ lên những lớp xa cừ (mother-of-pearl) nhiều màu sắc ở mặt sau vỏ của nó. Phương pháp "xanh" vì nhân cũng là nhân "đồng loại". Sự kết hợp giữa lớp xa cừ và bề mặt nhân là sự kết hợp bền vững có tính tương thích sinh học (bio-compatibility) và có lẽ rất khác nếu nhân là các loại plastic tầm thường!

Số cung của con hàu vỏ dày sông Mississippi một ngày nào đó sẽ không còn bắt kịp với số cầu, chuỗi cung ứng sẽ đứt đoạn. Tôi tò mò hỏi cô chuyên gia, nếu không là plastic thì công ty Mikimoto đã có vật liệu nhân tạo tương đương gì để thay thế? Cô ta nhoẻn miệng cười duyên, nói nhỏ "Bí mật công ty!".


Ngọc trai thành hình trong con hàu,
mũi tên chỉ vị trí hạt ngọc trai
.Mẫu trong bảo tàng viện. (Ảnh:Truong)


Ngọn tháp làm bằng13.000hạt ngọc trai được trưng bày
 trong bảo tàng viện. Nếu mỗi hạt trị giá $10USD,
 thì trị giá ngọn tháp ít nhất là $130.000 USD.(Ảnh:Truong)

Linh địa Nhật Bản: Ise và Koyasan

Thần xã/thần cung (đình thần) là nơi thờ thần theo Shinto (Thần đạo). "Thần" có ý nghĩa "đa thần" mang tính bộ lạc nguyên thủy của thuở hoang sơ, có thể là thần đất, thần cây, thần đá, thần suối v.v… Thần xã lớn nhỏ xuất hiện rất nhiều từ nam chí bắc. Nước Nhật thờ nhiều thần mang nhiều tên, có thần ban phước lành thi đỗ, ban hạnh phúc lứa đôi, ban sự may mắn làm ăn phát đạt, giao thông an toàn. Muốn được ban gì thì có thần đó. Cũng có những vị tướng thời cận đại lập chiến công hiển hách (gồm cả việc xâm lược nước ngoài) cũng trở thành "thần", thậm chí cả những tội phạm chiến tranh trong Thế chiến thứ 2 như Thủ tướng Tojo Hideki bị quân đội Đồng minh treo cổ cũng được thờ như một "á thần" trong Yasukuni Jinja (Tĩnh quốc Thần xã).

Cách thị trấn Toba 20km là thành phố Ise. Gần đó là Thần cung Ise, một quần thể 125 đình thần tọa lạc trong một khu rừng có diện tích 5000 hecta với những cây tuyết tùng cao vút có số tuổi hàng trăm năm. Nơi này là linh địa và cũng là linh hồn của đất nước Nhật Bản. Khi đi vào quần thể này, người viếng phải cúi đầu trước khi bước qua cầu Uji bắc ngang dòng sông Isuzu. Khi ra về cũng phải quay người lại kính cẩn cúi đầu từ giã. Con sông tượng trưng cho đường ranh phân biệt giữa cuộc đời thế tục và chốn linh thiêng. Trong quần thể Thần cung Ise có một thần cung chính đầu tiên được lập ra và tồn tại 1500 năm tại khu vực trung tâm gọi là Naiku (Nội cung). Thần cung này thờ vị thần linh thiêng nhất là Thái dương Thần nữ (Amaterasu-Omikami). Gọi là "Thần cung" nhưng đó chỉ là một căn nhà nhỏ vài ba gian lợp mái tranh. Nó linh thiêng đến độ người viếng được yêu cầu không được chụp ảnh. Thần đạo tin rằng thiên nhiên có sinh có tử, vô thường và vạn vật luân chuyển cái mới thay cái cũ. Cho nên, nơi thờ Thái dương Thần nữ từ xưa cứ mỗi 20 năm phải phá hủy và xây lại cùng lúc với cầu Uji. Dù là một di tích cổ đại người viếng không khỏi thất vọng khi nhìn một kiến trúc linh thiêng nhất Nhật Bản nhưng không hơn 20 tuổi đời. Cũng vì điểm này Thần cung Ise không đạt tiêu chuẩn cho danh hiệu Di sản Thế giới.


Cổng "Thần cung", bên trong là đền thờ
Thái dương Thần nữ. (Ảnh: Truong)


Đền thờ Thái dương Thần nữ được xây lại mỗi 20 năm.
(Nguồn: Wikipedia)

Thị trấn Koyasan (Cao Dã Sơn) cách thành phố Ise khoảng 100 km đường chim bay. Koyasan là một cao nguyên cao hơn mặt biển 800 m không khí trong lành, tọa lạc gần trung tâm của bán đảo Kii. Nếu từ Ise đi theo đường thẳng thì phải lái xe trên những con đường nhỏ ngoằn ngoèo xuyên qua rừng núi um tùm của công viên quốc gia Yoshino Kumano. Cách an toàn hơn là đi đường vòng sử dụng cao tốc để tới Koyasan. Thị trấn này là trung tâm Phật giáo Mật tông do đại sư Không Hải lập ra 1200 năm trước.

Hoằng Pháp đại sư Không Hải sinh năm 774 thuộc thời kỳ Nara trong lịch sử Nhật Bản cùng lúc với thời Mạt Đường tại Trung Quốc [1]. Hơn 100 năm trước đó, Đường Tam Tạng Trần Huyền Trang sang Ấn Độ thỉnh kinh và để lại những bản dịch đồ sộ của những bộ kinh Phật giáo từ tiếng Phạn (Sanskrit) sang tiếng Hán. Tiếng lành đồn xa. Người Nhật đương thời sang Trung Quốc du học thành một phong trào. Họ mượn tiếng Hán làm giàu văn tự Nhật và cùng lúc tu học kinh điển Phật giáo qua những bản dịch. Thành quả cuộc dịch thuật đã tạo thêm 3 vạn từ mới làm giàu Hán tự. Tiếng Phạn vô hình trung đã có ảnh hưởng sâu rộng đến tiếng Hán cổ và hiện đại, thậm chí đến triết học và thi văn Trung Quốc. Phật giáo khởi nguyên từ Ấn Độ nhưng suy yếu trong xã hội Ấn. Những vị sư Ấn phải đến Trung Quốc và các nước Đông Nam Á trong đó có Giao Châu (Việt Nam) tha phương truyền giáo. Sự đi lại nhộn nhịp giữa Trung Quốc và xứ Thiên Trúc (Ấn Độ) của các tăng sĩ Ấn – Trung kéo dài hàng trăm năm. Tư tưởng Phật giáo nảy mầm trong vùng đất phì nhiêu của Bách gia Chư tử cùng hòa đồng với tư tưởng cổ đại Nho giáo và Đạo giáo đã hình thành nên một trong những nền văn minh rực rỡ của nhân loại. Sư Ấn Độ tìm được nơi đất lành chim đậu; sư Trung Quốc không ngại gian nan đi đến Thiên Trúc tìm đến nguồn gốc Phật học. Trong những nỗ lực phi thường này, không phải chỉ có Đường Tăng mà còn có nhiều tăng sĩ trước và sau ông vượt thiên lý tìm Phật [2]. Có người may mắn được trở về dù thành quả không bằng Đường Tăng; có người hy sinh mạng sống trên đường thiên lý không bao giờ thấy lại cố quốc. Có thể nói đây là một cuộc giao lưu tôn giáo vô tiền khoáng hậu trong lịch sử loài người.

Không Hải sinh ra trong một gia đình trí thức hào tộc địa phương có người cậu làm quan trong triều đình. Năm 18 tuổi ông được cậu đưa vào Đại học ở kinh đô cùng học với con cháu quý tộc để ra làm quan. Khái niệm "Đại học" lúc đó khác thời hiện đại và chỉ là nơi rèn luyện theo kinh điển Khổng Mạnh như mẫu mực đối với giai cấp quan lại thời bấy giờ. Không Hải nhờ vậy tinh thông Hán học, từ năm 18 tuổi ông đọc những kinh điển về Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo. Ông học được hai năm tại Đại học thì bỏ học vì ông không thấy giá trị của Nho giáo, nó chỉ lặp lại triết lý thánh hiền nhàm chán, không có giá trị thực tiễn. Ông xuất gia năm 20 tuổi (793) lấy phật hiệu là Không Hải để nghiên cứu Phật pháp và tu tập cứu độ chúng sinh. Năm 24 tuổi ông viết bài tham luận đầu tay "Tam giáo chỉ quy" phân tích những ưu nhược điểm trong Nho, Đạo và Phật giáo. Kết luận của ông là không theo Nho giáo và Đạo giáo và cho rằng chỉ có Phật giáo mới có một hệ thống tư tưởng ưu việt nhằm giải thoát con người ra ngoài bể khổ trầm luân. Bộ kinh Đại Nhật của Mật giáo (Mật tông), có ảnh hưởng lớn đến ông, vốn là kinh điển Phật giáo chính thống xuất phát từ Ấn Độ được dịch ra tiếng Hán và truyền sang Nhật Bản. Nhưng ông vẫn chưa bằng lòng với sự hiểu biết của mình về Mật giáo nên quyết tâm sang Trung Quốc du học.

Năm 30 tuổi Không Hải đi theo thuyền của sứ đoàn Nhật có hàng trăm người sang Trung Quốc. Mỗi chuyến đi không phải chỉ cho vấn đề ngoại giao mà có mục đích quan trọng hơn là tìm hiểu văn hóa, hành chính, thiết kế đô thị của Trung Quốc, đặc biệt đối với các tăng sĩ là mang các bộ kinh Phật về Nhật. Đoàn gồm 4 chiếc thuyền, ông đi cùng với vị đại sứ trên chiếc thứ nhất. Trên chiếc thứ hai có một vị đại sư tên là Tối Trừng cũng sang Trung Quốc du học. So với sư Tối Trừng, Không Hải lúc đó chỉ ở bậc học trò. Khi trở về Nhật, Tối Trừng trở thành đại sư lập ra Thiên Thai tông tại Nhật.

Đương thời, con đường biển an toàn đến Trung Quốc là đường ven theo bờ tây nước Triều Tiên rồi băng ngang biển Hoàng hải cặp bến bán đảo tỉnh Sơn Đông. Nhưng khi đó Nhật Bản có xích mích ngoại giao với xứ Tân La (Triều Tiên ngày nay) nên đoàn thuyền của Không Hải phải hướng về phía nam băng qua biển lớn Hoa đông nhiều sóng gió. Trong chuyến đi này, không may đoàn thuyền gặp nạn. Chiếc thứ tư bặt vô âm tín. Chiếc thứ ba quay trở lại Nhật. Chiếc thứ hai chở sư Tối Trừng trôi giạt vào Minh Châu (Ninh Ba, phía nam Thượng Hải ngày nay). Chiếc thứ nhất chở vị đại sứ, tùy tùng và Không Hải lênh đênh trên biển 3 tháng và cuối cùng cập bến tại thủ phủ Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến. Có giả thuyết cho rằng nếu thuyền chở Tối Trừng và Không Hải bị đắm thì Phật giáo Nhật Bản ngày nay sẽ ra sao? Phúc Châu là cảng của một tỉnh lẻ, quan quân địa phương không quen tiếp đón tàu thuyền quốc tế. Khi thuyền cặp bến Phúc Châu nhà chức trách sở tại không cho lên bờ vì nghi ngờ là thuyền hải tặc. Cả đoàn người xơ xác vẫn còn bàng hoàng vì trận bão, vừa đến bờ lại bị hăm he bỏ tù. Khi vị đại sứ gần như vô kế khả thi thì có người mách với ông là trong thuyền có một tăng sĩ "vô danh" nhưng văn hay chữ tốt. Đó là Không Hải. Vị đại sứ nhờ Không Hải thảo một bức "Thán Nguyện thư" thống thiết kể lể sự tình. Tài năng Hán học của Không Hải được đem ra thi thố. Bức thư của Không Hải viết theo lối biền ngẫu Trung Hoa với những câu tán tụng "nhờ ơn trên thánh đức của Đại Đường Hoàng Đế nên thuyền của tiện dân được trôi giạt đến nơi này …" chạm đúng tần số của vị quan địa phương. Đọc những dòng chữ viết như rồng bay văn chương lưu loát ông quan nhận ngay người viết không phải là "phường hải tặc", lập tức thay đổi thái độ lại còn sắp xếp phương tiện di chuyển miễn phí đưa cả đoàn đến kinh đô Trường An (Tây An ngày nay) cách Phúc Châu gần 2000 km. Nội dung bức "Thán Nguyện thư" vẫn còn lưu trữ cho đến ngày nay.

Khi Không Hải đặt chân đến Trường An, thì nhà Đường đã qua đỉnh của thời kỳ "Thịnh thế" nhưng Trường An vẫn là thành phố quốc tế nơi tập hợp những tinh hoa văn hóa khắp nơi. Phật giáo vẫn thịnh hành và các tăng sĩ được triều đình trọng vọng. Tại Trường An, Không Hải làm đệ tử của đại sư Huệ Quả. Huệ Quả nổi tiếng là vị đại sư Chân ngôn Mật giáo thời bấy giờ, nguyên là đệ tử và cũng là học trò tiếng Phạn của sư Bất Không người Ấn Độ. Các đại sư Ấn đến Trung Quốc không những là nhà truyền giáo uyên thâm mà còn là nhà ngôn ngữ học xuất sắc. Sư Bất Không, sau này được xem là Lục tổ Mật giáo, thông thạo tiếng Hán, dịch kinh Mật giáo truyền bá khắp nơi tại Trung Quốc. Khi Không Hải gặp Huệ Quả thì sư đã có hàng ngàn đệ tử và sư Bất Không đã qua đời nhưng ông may mắn được thọ giáo tiếng Phạn từ một vị sư Ấn Độ khác.

Sau 2 năm du học, bằng sự thông minh trác tuyệt Không Hải nhanh chóng tiếp thu Phật học, trở nên một đệ tử hàng đầu của đại sư Huệ Quả và được sư phụ khuyên trở về nước hoằng dương đạo pháp. Sau đó không lâu, Huệ Quả viên tịch. Về nước, Không Hải nhận được sự trọng vọng của triều đình Nhật Bản và trở thành người bạn thi văn thân thiết của Thiên Hoàng Saga đương thời. Gần 20 năm sau ông được Thiên Hoàng cho phép sử dụng vùng đất Koyasan để xây tự viện làm trung tâm tu tập cho Chân ngôn Mật giáo tông.

Đi vào đây chúng ta phải bước qua cổng Đại môn. Ba chữ Hán "Cao Dã Sơn" (Koyasan) treo trên cổng là bút tích của Không Hải. Koyasan lúc xưa là nơi thâm sơn cùng cốc, rừng linh núi thiêng của một chốn thần tiên. Giờ đây, Koyasan của những tự viện có hàng trăm năm tuổi vẫn là nơi thâm sơn cùng cốc cách biệt với những thị trấn thế tục bên ngoài. Lẩn khuất trong rừng cây tuyết tùng cao vút xanh tươi được chấm phá bởi những tàn lá phong đỏ là những ngôi miếu nhỏ, ngọn tháp cao cao, cây cầu gỗ sơn màu đỏ cam phản chiếu xuống mặt hồ phẳng lặng trong tia nắng nhẹ chiều thu. Đâu đó tiếng chuông chùa ngân vang từ một ngôi chùa hòa lẫn với tiếng nước chảy róc rách từ một nguồn suối nhỏ. Những tiếng động nhẹ nhàng của nước len lỏi trong rừng cây được tô điểm bằng màu xanh của bầu trời, màu đỏ của lá thu và màu sơn của các kiến trúc con người như muốn khuấy động sự trầm lắng của khoảng không gian thoảng mùi thiền. Koyasan là nơi biểu hiện của linh hồn Nhật Bản dường như còn giữ được cái thần bí xa xưa trong màu sắc thời hiện đại.


Đại môn "Cao Dã Sơn" với bút tích của Không Hải. (Ảnh: Truong)


Trung tâm thị trấn Koyasan trong buổi chiều thu êm ả. (Ảnh: Truong)


Đại tháp nơi tu tập đạo pháp là biểu tượng của Chân ngôn Mật giáo
do Không Hải lập nên tọa lạc tại trung tâm thị trấn Koyasan. (Ảnh: Truong)

Tôi qua đêm tại một ngôi chùa cổ hàng trăm năm. Chùa được bao quanh bởi ngôi vườn Nhật Bản với những bụi kiểng được tỉa cắt tỉ mỉ tạo ra nhiều hình dáng khác nhau mà từ xa trông giống như hòn giả sơn phủ đầy cỏ. Dọc theo đó là cái hồ dài như một dòng sông nhỏ. Một thiết kế đình viên đặc thù Phù Tang nhưng nó sẽ trở nên bất động và lạnh lẽo nếu không những con cá koi ngụp lặn trong hồ nước, cái hành lang gỗ và những chiếc lồng đèn hoa sen làm bằng đồng đen treo dưới mái hiên chùa đong đưa trong làn gió.

Một góc trong ngôi chùa cổ. (Ảnh: Truong)

Phần lớn 120 tự viện tại Koyasan có hoạt động kép: tu tập và cung cấp dịch vụ tá túc như một lữ quán (ryokan). Không có nơi nào trên nước Nhật có mật độ tự viện cao như Koyasan, và từ khi trở thành Di sản Thế giới các chùa chỉnh trang lại để đáp ứng nhu cầu của khách thập phương. "Ngủ chùa" (shukubo) có lịch sử hàng trăm năm. Một phương cách tạo cho chùa nguồn tài chính bền vững và tự chủ mà không cần dựa vào sự tùy hỷ của thiện nam tín nữ. Phục vụ của chùa cũng tương đương với một lữ quán "thế tục" cao cấp có suối nước nóng (onsen), tiếp đãi ân cần, đầy đủ mọi tiện nghi. Chỉ khác với lữ quán thường là thức ăn chay và mỗi buổi sáng từ 6 giờ là giờ tụng kinh 1 tiếng đồng hồ. Khách trọ được khuyến khích tham gia. Thức ăn không phải là các món "chay giả mặn" mà thuần chay khó nuốt. Mỗi thứ một chút được trang trí nhiều màu sắc rất đẹp, nhưng nhìn kỹ thì chỉ loanh quanh vài món chính như củ cải trắng được làm chua khác nhau nên màu sắc khác nhau, cà pháo, nấm, khoai, gừng cay ướp đỏ, súp đậu hũ được phủ với vài khoảnh cà rốt mềm, vài miếng đậu hũ, hành tây xắt mỏng. Thức ăn được để trên chiếu tatami, lúc ăn phải khom người khoanh chân trong tư thế ngồi thiền. Cả phòng ăn có gần 10 thực khách phần lớn là các ông Tây bà Tây ngồi ăn im lìm, chỉ nghe tiếng khua của chén đĩa. Mật giáo không chủ trương "khổ hành ép xác" để đạt đến giác ngộ. Nhưng đối với những kẻ phàm phu thích những thứ "mặn mà" thì ngồi ăn chay kiểu Nhật là một việc "khổ hành", e rằng dù làm hành giả tu tập nhiều năm cũng khó vượt qua vũ môn của giác ngộ!


Buổi cơm tối tại chùa. (Ảnh: Truong)

Cách trung tâm thị trấn Koyasan vài cây số là một nghĩa trang ngàn năm có tên gọi là Oku-no-In (Thánh địa). Năm ông 62 tuổi, Không Hải viên tịch. Chân ngôn Mật giáo tin rằng ông không qua đời mà chỉ ngồi thiền miên viễn trong một lăng miếu (Lăng Không Hải) thờ ông tại Oku-no-In. Khởi đầu từ lăng miếu là một con đường hẹp dài 2 km xuyên qua Thánh địa mà hai bên đường nhấp nhô những tháp mộ cao thấp khác nhau thấp thoáng trong rừng cây um tùm của những đại thụ hàng trăm năm tuổi nơi chôn tro cốt của các Phiên chủ (Lãnh chúa), chiến tướng, cao tăng, văn thi hào, nhân vật lịch sử lừng danh từ thời đại Nara (thế kỷ 8). Những ngôi mộ ở đây là 5 khối đá được khắc chạm thành 5 hình dạng khác nhau chồng lên nhau tượng trưng cho "ngũ đại": địa, thủy, hỏa, phong (gió) và không. Có bia được khắc bằng chữ Hán cũng có bia bằng chữ Phạn. Một điều thú vị khi chữ Phạn được viết bằng bút lông thì nó toát ra vẻ đẹp uyển chuyển như chữ Hán.


Tro cốt được đặt dưới mộ xây bởi 5 khối đá có hình dạng khác nhau
(khối, cầu, tháp bốn cạnh, trụ) tượng trưng cho: địa, thủy, hỏa, phong và không.
Hai tượng nhỏ mặc áo đỏ là Thổ địa. (Ảnh: Truong)


Chữ Phạn viết bằng bút lông. (Ảnh: Truong)

"Ngũ đại" của Mật giáo liên hệ đến vũ trụ quan của Ấn Độ cổ đại. Người Ấn Độ cho rằng vũ trụ được tạo nên bởi 4 yếu tố "tứ đại" theo thứ tự: địa, thủy, hỏa, phong. Sau đó, "tứ đại" được thêm vào yếu tố "không" vì theo kinh Phật thì "tứ đại" đều quy về một nguồn là "không". Tôi xin tản mạn đôi điều ở đây về Phật học và khoa học. Việc liên kết "tứ đại" với "không" rất khó lý giải và khập khiễng khi nhìn từ lăng kính lôgic của khoa học hiện đại vì "không" của khoa học đơn giản chỉ là "chân không" hay "không gian", không bao hàm ý nghĩa triết học. "Không" của Phật giáo là "tánh Không" "vô ngã" hàm ý lưỡng tính không - sắc; "không tức thị sắc, sắc tức thị không". Trong "không" chứa "sắc" và ngược lại. "Sắc" là vật chất biểu hiện bởi "tứ đại". Trong khoa học có cũng lưỡng tính. Đó là lưỡng tính sóng - hạt của cơ học lượng tử. "Sóng" có thế xem như là "không"; "hạt" như là "sắc". Lưỡng tính "không – sắc" của Phật giáo bao quát mọi sự, từ tâm linh đến vật chất, từ thế giới vi mô kéo dài đến vĩ mô. Nhưng lưỡng tính sóng - hạt chỉ hiện hữu ở trạng thái vi mô của nguyên tử phân tử. Phật giáo mang tính tổng thể nhưng không thể nói khoa học là trường hợp đặc thù của Phật giáo. Bởi lẽ, giữa Phật giáo và khoa học có nhiều điểm tương tự, nhưng bản chất không giống nhau. Lưỡng tính sóng – hạt và lưỡng tính không – sắc là một ví dụ và chỉ là sự tương tự có tính ngẫu nhiên.

Nói rõ hơn, triết học Phật giáo với khoa học có những khái niệm trùng hợp nhưng chỉ ở phạm trù vật chất. Lý luận khoa học cũng có nhân quả, có duyên khởi, có vô ngã vô thường, nhưng đối tượng khoa học không bao gồm linh hồn, tâm linh và tái sinh luân hồi. Phật giáo là định tính có chân lý hầu như bất biến. Khoa học là định lượng dùng thực nghiệm và toán học như một công cụ suy luận với những định luật khả biến với thời gian theo sự triển khai của trí tuệ con người. Phật giáo là hệ thống triết học của một tôn giáo, trong khi khoa học là hệ thống học thuật tìm hiểu tự nhiên. Phương pháp của khoa học là thực nghiệm; phương pháp của Phật học là kinh nghiệm. Thực nghiệm mang tính phổ biến khách quan, có hệ thống, mang tính lặp lại (reproducibility). Kinh nghiệm mang tính cá thể, có ít nhiều chủ quan. So sánh giữa Phật giáo và khoa học vì vậy cần có sự chọn lọc.

Dù sao, sự tương đồng trong tư duy Phật học và khoa học đã đưa Phật giáo đến gần khoa học hơn bất cứ mọi tôn giáo nào khác. Tình cờ tôi nghe được bài giảng của thiền sư Thích Nhất Hạnh bàn về tướng (相). Mọi vật và đối tượng đều có "tướng", nghĩa là biểu hiện ngoại hình. Nhưng tướng có tính chất lừa dối, là hư vọng. Khi ta nhìn một đối tượng thì tâm (心) của ta sẽ nắm bắt tướng của đối tượng đó cho ta tưởng (想) (ý tưởng), cũng như cách chiết tự trong tiếng Hán là chữ "tưởng" do hai chữ "tâm" và "tướng" gộp lại (相+心 = 想). Thật tuyệt vời, vì không có cách nào diễn tả tượng hình và dễ hiểu hơn phương pháp chiết tự. Khi có tướng thì đã có sự lừa dối khiến ta "tưởng bậy" mắc sai lầm, chủ quan. Cho nên giáo lý Phật giáo dạy rằng ta cần có con mắt quán chiếu dùng chánh niệm để hiểu rõ thực chất của đối tượng. Rõ ràng, đây là phương pháp luận khoa học. Trong nghiên cứu khoa học, quan sát là khởi điểm để khảo sát "tướng" của sự vật. Nhưng "tướng" có thể "vậy mà không vậy". Nhà khoa học cần làm thực nghiệm và suy luận toán học để có chánh niệm quán chiếu hiểu đúng bản chất của tự nó.

Trở lại với thế giới quan Phật giáo, Mật giáo thêm vào yếu tố tinh thần là "thức" (ý thức) tạo nên "lục đại": địa, thủy, hỏa, phong, không, thức. Không Hải đã cảm nhận được rằng nếu ta biết dung hợp và thông hiểu tất cả yếu tố trên, tinh thần ta sẽ trở nên ung dung tự tại. Khi đó, "Phật phàm nhất như", Phật nhập vào (người) phàm, phàm nhập vào Phật hòa nhau thành một khối. Để "phàm nhập vào Phật", Mật giáo không quan niệm phải "khổ hành" mà chỉ cần phát tâm Bồ đề, con tim sẽ tìm được đến sự giác ngộ. Khi đạt đến giác ngộ, tâm đại từ đại bi sẽ xuất hiện. Tâm Bồ đề là cái "nhân" phát sinh tâm từ bi là "căn" rồi từ đó con người tự nhiên tự tại trưởng thành.

Vậy, "giác ngộ" là gì? Trong cuốn sách nhỏ của ông khi nói về sự "giác ngộ" [1], tác giả Hiro Sachiya kể lại một mẩu chuyện nhỏ về lần gặp gỡ với người bạn Ấn Độ. Ông bạn này bảo tác giả rằng, "Anh Hiro, chắc anh biết là Phật giáo là tôn giáo dạy lời của Buddha". "Đúng vậy". Ông nói tiếp, "Và anh cũng biết là đồng thời Phật giáo cũng dạy sao cho chúng sinh thành Buddha". "Đúng luôn". "Như vậy, tôi hỏi anh chúng ta cần bao nhiêu năm tu hành mới đạt đến Buddha?". Tác giả Hiro muốn nhấn mạnh sự lâu dài nên nghĩ ra một con số, "Để thành Buddha chúng ta cần một thời gian rất lâu. Hmmm…ít nhất cũng phải là năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm!". Ông bạn mỉm cười nói, "Nhưng mà anh Hiro à, mỗi buổi sáng thức giấc tôi đều "buddha" đấy".

Tác giả Hiro nghe xong hơi bực mình vì cảm thấy cụm từ linh thiêng "buddha" sao lại có ý nghĩa phàm tục như thế. Nhưng khi ông tìm hiểu nghĩa "buddha" trong tiếng Phạn thì ông vỡ lẽ. "Buddha" có nghĩa là "mở mắt" được dịch thành tiếng Hán là "Phật đà". Mỗi buổi sáng sau giấc ngủ ai cũng phải "phật đà", mở mắt tỉnh giấc. Trong nghĩa rộng hơn, sau cơn mê thế tục ta "buddha". Ta "giác ngộ" bởi "phật đà".

Thánh địa Oku-no-In có 200.000 ngôi mộ. Nhưng chúng không cho ta cảm giác âm u ma quái của những nghĩa trang bình thường. Mà nó đưa ta vào những trang sách sử hưng phế của nhiều thời đại như một thiên trường ca trong đó nhân vật diễn xuất giờ đây chỉ là những ngôi mộ nghiêng ngả, phủ đầy rêu phong trên đó những hàng chữ khắc vào bia đã mờ theo năm tháng. Đây là ngôi mộ của một vị đại tăng có công lao tạo ra một tông phái Phật giáo Nhật Bản, kia là mộ của dòng họ Tokugawa có công lớn mở ra thời đại Edo hòa bình gần 270 năm, gần đó là tháp bia của một Hoàng hậu, xa xa là tấm bia tưởng niệm những oan hồn tử sĩ trong chiến tranh Triều – Nhật (1597) do Tướng quân Toyotomi Hideyoshi phát động. Tiếng vó ngựa, tiếng rổn rảng gươm đao của một thời chiến loạn; tiếng hát những bài dân ca vang lên trong lễ hội matsuri cầu mưa thuận gió hòa của thời thái bình thịnh trị mà những kẻ đã tạo ra chúng đã lùi xa vào quá khứ và giờ đây chỉ còn là sự tĩnh mịch của những ngôi mộ đá sừng sững vô tư thách thức với thời gian.

Nửa đường trên con đường đến Lăng Không Hải, tôi phát hiện mộ phần của Tướng quân Oda Nobunaga. Cạnh đó là mộ phần của gia tộc Tướng quân Toyotomi Hideyoshi. Hai anh hùng thống nhất Nhật Bản vào thế kỷ 16 chấm dứt thời đại Chiến quốc, có tầm vóc như Quang Trung Nguyễn Huệ và Trần Hưng Đạo. Oda từng là chủ tướng của Toyotomi, người thuộc hạ trung tín tài ba từng ôm dép Oda vào ngực sưởi ấm cho đôi bàn chân của Oda trong những ngày đông giá buốt. Khi Oda gần thống nhất đất nước thì không may trong một chuyến du hành một thuộc hạ tập kích bức tử ông. Toyotomi nhanh chóng tiêu diệt kẻ thuộc hạ phản phúc rồi thay Oda lên làm chủ tướng quy thiên hạ về một mối hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước. Toyotomi muốn chứng tỏ trước thiên hạ ông là một chiến lược gia tài ba, ông đóng bản doanh ở thành Osaka thành lập bộ chỉ huy nhằm thực hiện mưu đồ đế quốc. Phía tây ông dọa dẫm Triều Tiên, Minh Quốc (nhà Minh, Trung Quốc). Phía nam ông thèm muốn Đài Loan và Lữ Tống (đảo Luzon, Philippines). Một năm sau khi thống nhất Nhật Bản, Toyotomi cử đại quân vượt biển thần tốc chiếm đóng Triều Tiên (1597) [3].


Mộ phần của Tướng quân Oda Nobunaga. (Ảnh: Truong)


Mộ phần của Tướng quân Toyotomi Hideyoshi. (Ảnh: Truong)

Hơn 400 năm sau, hai anh hùng Nhật Bản vẫn nằm cạnh nhau trong Thánh địa Oku-no-In. Mộ phần của Oda Nobunaga nhiều lắm 2 m2 đất. Mộ phần của gia tộc Toyotomi không hơn 15 m2. Hai mộ phần mốc thếch, khiêm tốn lặng lẽ, không khoa trương đình đám, không bông hoa, hương khói ngột ngạt đèn đuốc lung linh và hiểu theo đúng nghĩa đen không bằng một góc lăng của các vị chủ tịch nước ngày nay.

Oku-no-In có khu đất dành cho mộ của các đại gia hiện đại như ông chủ hãng cà phê UCC lớn nhất Nhật Bản, các CEO của hãng xe Nissan, công ty Panasonic v.v… Cũng như các ngôi chùa tại Koyasan, Oku-no-In cũng cần thu nhập cho việc duy trì bảo dưỡng. Sự trao đổi diễn ra dưới hình thức cúng dường (hono, phụng nạp) và có lẽ một tấc đất ở đây quý giá hơn vàng và hơn nhiều lần số tiền phải chi trả ở Los Angeles, New York hay Paris.

Người Nhật kính trọng và ái mộ Không Hải không chỉ vì ông là một đại sư mà còn là một người đa tài xuất chúng có nhiều đóng góp trong lĩnh vực văn hóa và tư tưởng. Ông đi nhiều nơi trên nước Nhật để hoằng dương đạo pháp đồng thời chung vai sát cánh giúp đỡ người dân. Ông đến đâu cũng được dân dựng bia kỷ niệm và tên tuổi ông đi vào văn chương bình dân và ca dao tục ngữ. Không những ông viết văn hay ông còn nổi tiếng viết chữ đẹp. Trong tục ngữ Nhật có câu, "Kobo fude ebarazu" (弘法筆を選ばず). "Viết đẹp như Hoằng Pháp thì không cần chọn bút", hiểu rộng hơn là "Người giỏi thì trong tình huống nào cũng cho kết quả tốt". Một tục ngữ khác là "Kobo nimo fude no ayamari" (弘法にも筆の誤), có nghĩa "Đến như Hoằng Pháp thì viết cũng còn sai". Ý nói dù tài năng bao nhiêu thì cũng có lúc sai.

Trong cuộc sống thường nhật, người Nhật hiện đại rất thực tế, xử sự như kẻ "vô thần" không bàn luận đến đức tin hay có hành xử dựa trên những tín điều tôn giáo. Nhưng khi kết hôn, họ đến thần cung để được các vị thần dù mơ hồ danh tính ban phước lành được hạnh phúc trăm năm. Khi lìa đời, tro cốt của họ mang tới chùa để được siêu thoát ở cõi Niết Bàn. Người Nhật có phong cách riêng của họ, cái mà tôi gọi là "tinh thần Nhật bản". Họ khiêm cung lễ độ nhưng không khúm núm rụt rè. Họ có thể bất đồng với nhau nhưng nhã nhặn tìm cho nhau một điểm chung hòa đồng. Họ không nhìn quá khứ để nức nở tự hào về những thành tựu hay "bản sắc dân tộc", nhưng họ nhìn vào thiếu sót quá khứ để khắc phục những bất cập tương lai trong tinh thần kaizen (cải thiện).

Lời kết

Trong chuyến đi này, Mikimoto Kokichi và Hoằng Pháp đại sư Không Hải là hai nhân vật đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng. Thời đại hai người cách nhau hơn một thiên niên kỷ nhưng tinh thần Nhật Bản vẫn như nhau. Những con người như Mikimoto Kokichi vừa là một nghệ nhân vừa là một nhà nghiên cứu ròng rã 12 năm để hoàn thiện những hạt ngọc làm đẹp phụ nữ, đã thể hiện được tinh thần kaizen vốn có trong huyết quản người Nhật. Mikimoto Kokichi cũng như Yamaha Torakusu (Yamaha) là những bậc tiền bối tiêu biểu trong ngành sản xuất công nghệ Nhật được nối tiếp bởi Matsushita Konosuke (Panasonic), Honda Soichiro (Honda) và Morita Akio (Sony). Họ hãnh diện về sản phẩm của mình đặt sự bền đẹp sản phẩm, lợi ích của khách hàng trước lợi nhuận cá nhân.


Không Hải là vị Phật sống trong thời đại của ông và cũng là một mẫu mực cho hòa thượng các đời sau. Ông thiết lập nền tảng vững chắc cho Phật giáo Nhật Bản và đưa Phật giáo đi sâu vào tâm thức người dân vừa đóng góp cho lý thuyết Phật học qua các bài viết vẫn còn lưu truyền đến ngày nay. Nhật Bản đi đến đâu cũng nhìn thấy đình thần và chùa chiền. Bản chất Thần đạo là đa thần giáo. Hơn một ngàn năm qua, Thần đạo và Phật giáo cùng tồn tại hài hòa và song hành theo triết lý chữ "Hòa" trong đời sống tinh thần của người Nhật. Thậm chí, khi Không Hải bắt đầu xây các tự viện tại Koyasan ông cũng dựng lên một đình thần. Không Hải có mê tín thần linh hay chăng? Ông là một người trí thức có tư duy phân tích khoa học, là một vị đại sư dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi sự "mê muội" trần thế, vậy bản thân ông không hề mê tín. Ông theo truyền thống của chữ "Hòa" lập đình thần để biểu hiện sự tôn trọng đối với người bản địa và tôn vinh sự hài hòa tôn giáo.

Cuối cùng, tôi muốn nói đến sự gìn giữ thiên nhiên của người Nhật. Từ hậu bán thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 núi đồi nước Nhật không còn nhiều cây cỏ bởi người dân chặt cây rừng làm nhiên liệu. Nhưng các chính phủ Nhật thời hậu chiến đã nhanh chóng phục hồi cây rừng cho núi rừng còn xanh lá, cho thú rừng quay về chốn cũ, cho chim muông các loài tìm đến đất lành mang lại sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Lái xe ngang dọc trên bán đảo Kii tôi có dịp đi sâu vào những sơn đạo nhỏ và đường đèo dọc theo triền núi để từ trên cao nhìn thấy những rặng núi hùng vĩ xanh rì bao quanh cánh rừng bạt ngàn, tôi thầm phục cách quản lý rừng núi của chính quyền địa phương và chính phủ Nhật. Ở Singapore, họ cũng trân quý từng tấc đất, ngưỡng mộ những gì mà thiên nhiên ban cho. Họ làm sạch dòng sông, tạo những thác nước nhân tạo mô phỏng thiên nhiên. Quốc đảo đô thị này có vài "mảnh" rừng nhỏ không to hơn công viên của những đô thị lớn nhưng họ hãnh diện gọi đó là "jungle".

Nhưng ở Việt Nam thì khác. Dưới chiêu bài phát triển du lịch, các tập đoàn tài phiệt phá những cánh rừng già không thương tiếc. Họ xẻ chúng ra từng mảnh để làm các khu du lịch to lớn, đặt vào đó các khách sạn 5 sao khổng lồ, dựng lên những lâu đài nhái kiểu Disneyland vô hồn, lập lòe ánh sáng, ồn ào các thứ show diễn về đêm, xây hàng loạt những căn nhà giả cổ kiểu Tây được quảng cáo là "báu vật đầu tư" hấp dẫn những kẻ dư tiền mua để đó mà không cần người mướn. Các khu du lịch này hoàn toàn biệt lập với cộng đồng cư dân địa phương và không mang lại lợi ích gì cho dân nghèo. Sự phân cực giàu nghèo càng gay gắt. Khi có kẻ giàu quá mức trong lớp vỏ hợp pháp thì nảy sinh một số rất lớn người nghèo quá mức dật dờ kiếm sống để trả giá theo quy luật bù trừ kinh tế. Nói cách khác, đó chẳng qua là cách phát triển theo kiểu chủ nghĩa tư bản "hoang dã" nhưng họ gọi đó bằng một cụm từ mỹ miều có tên là "Xã hội Chủ nghĩa".

Trương Văn Tân

Những ngày nắng Hạ
12 tháng 2 2023
diễn đàn FORUM

Tài liệu tham khảo

1. Những chi tiết về đại sư Không Hải được trích dẫn từ quyển sách tiếng Nhật có tựa đề "Kukai to Mikkyo" (Không Hải và Mật giáo) của tác giả Hiro Sachiya (nxb Shodensha, 2015).

2. https://www.erct.com/2-ThoVan/NNT/Chin-Shun-Shin-TNTK.htm

3. https://www.diendan.org/sang-tac/tap-cam-cua-mot-chuyen-di-nhat

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016

Đi Tìm Lá Đỏ Mùa Thu

Từ Tokyo vượt đường xa đến tận miền Tohoku (Đông Bắc) của đảo Honshu tôi đi tìm lá đỏ mùa Thu. Vài mươi năm trước, tôi còn nhớ từ Tokyo lên đến thành phố Sendai vùng Tohoku đi trên tuyến đường xe lửa Joban-sen dọc theo bờ Thái Bình Dương sao mà xa diệu vợi. Đi bằng xe lửa tốc hành trên quãng đường 300 km đến Sendai cũng gần 4 tiếng đồng hồ. Từ Sendai đến Aomori điểm cực bắc của đảo Honshu phải đi thêm 400 km. Tổng cộng hơn 8 tiếng nếu có những chuyến xe nối tiếp đúng lúc. Ngày nay, xe lửa cao tốc chạy trên tuyến đường Tohoku Shinkansen 700 km đã rút ngắn thời gian từ Tokyo đến Aomori xuống chỉ còn 3 tiếng. Tỉnh Aomori của đảo Honshu không còn là một nơi xa vời trong tâm trí người Nhật Bản. Với tấm vé Japan Rail Pass, chúng tôi đi một vòng lớn trên đảo Honshu gần 3000 km và trạm dừng chân đầu tiên là hồ Towada (tỉnh Aomori). 

Thời tiết mùa Thu Nhật Bản vốn bất thường. Có những lúc mưa rơi lê thê mây bay vần vũ, nhưng bỗng chốc trời quang mây tạnh, ánh mặt trời lung linh trở lại trên bầu trời xanh biếc. Sự thay đổi chóng vánh của tiết Thu khiến cho người đàn ông Nhật không biết lấy gì để so sánh, nhìn quanh quẩn thì thấy người đàn bà nên bi tráng thốt lên, "onna no kokoro, aki no sora!". Ý nói rằng tâm tư người phụ nữ hay thay đổi bất thường như bầu trời mùa Thu. Câu ngạn ngữ dường như vượt biên giới vì có lúc Nguyên Sa cũng xót xa cảm thán, "Em chợt đến chợt đi, anh vẫn biết. Trời chợt mưa chợt nắng chẳng gì đâu." Nhưng dù có mưa nhiều hay rất nắng, dù có tiêu điều hay rực rỡ, mùa Thu khiến cho lòng người trầm lắng, muốn tránh xa thế tục quên đi những cái buồn não đời thường để hòa mình trong sắc màu của Thu.

Hồ Towada nổi tiếng với sắc thu, nhưng lá đỏ lá vàng không thể chờ tôi lâu hơn nên đã rơi rụng trong những đợt mưa rả rích đầu đông. Mặt đất cô liêu phủ đầy lá thu nhưng vắng bóng người nhặt lá thu rơi và vắng cả con nai vàng ngơ ngác. Hồ Towada là miệng núi lửa vài mươi triệu năm trước (Hình 1). Núi lửa tắt, qua những cơn vật đổi sao dời miệng núi biến thành hồ. Nơi này vốn là nơi nghỉ mát thư giãn cho dân đô thị vào những ngày hè oi bức, nơi ngắm hoa anh đào vào tiết xuân, nơi tràn ngập lá phong đỏ mùa thu hay ngắm nhìn tuyết rơi lất phất và nhẹ nhàng đáp trên những nhánh cây trụi lá mùa đông. Nhưng Towada ngày nay ảm đạm, không phải vì những hạt mưa phùn bay bay theo gió mà do ảnh hưởng của sóng thần vài năm trước vẫn còn đậm nét. Các quán ăn, lữ quán, khách sạn phải đóng cửa vì vắng khách. Đường sá tiêu điều không một bóng người, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe vội vã chạy qua. "Đây là cái vòng luẩn quẩn ông ạ", một nhân viên phòng hướng dẫn du lịch nói với tôi. "Đối với khách nước ngoài thậm chí người trong nước, người ta có ấn tượng Tohoku đang bị nhiễm phóng xạ nên ai cũng tránh xa. Thật ra, ở đây không có phóng xạ nhưng bị tiếng đồn vạ lây. Vì không ai lui tới nên dịch vụ giao thông cũng thưa dần. Dù Shinkansen vẫn chạy bình thường nhưng chắc cũng phải đợi thêm vài năm ông ạ…", cô vừa nói vừa lắc đầu chấp nhận. 

Hình 1: Hồ Towada 

Hơn nửa thế kỷ qua, xe lửa cao tốc Shinkansen là niềm tự hào của đất nước Phù Tang. Không một lần nào tai nạn, ít bao giờ trễ hẹn. Shinkansen trở nên một biểu tượng công nghệ cao của thế kỷ 21 với cung cách phục vụ nhanh chóng và chu đáo. Từ tuyến đường chính lên miền Tohoku, Shinkansen rẽ nhánh sang bờ Tây đảo Honshu đến các tỉnh dọc theo biển Nhật Bản (Sea of Japan). Cái khó khăn trong sự phát triển xe lửa cao tốc là việc đào đường hầm và đặt đường ray thật vững chắc dưới lòng biển dài 50 km nối liền hai đảo lớn Honshu và Hokkaido để xe có thể chạy với tốc độ 300 km/h. Nhưng người Nhật đã thực hiện được điều này và họ sẽ cho xe chạy thử vào tháng 3, 2016. Rồi đây một thập niên sau, Shinkansen sẽ lan tỏa khắp nơi trên đảo Hokkaido. 

Nhưng câu chuyện Shinkansen không ngừng ở đây. Trên chuyến xe đi lên miền Tohoku, khi đến thành phố Morioka đoàn xe được tách rời làm hai tại nhà ga Morioka. Sau đó, đoàn xe phía trước sẽ tiếp tục đi về phía bắc đến Aomori, đoàn phía sau sẽ hướng về thành phố Akita phía bờ tây Nhật Bản. Tôi dự đoán sẽ có những tiếng "cành cạch" tháo rời làm rung chuyển đoàn xe. Nhưng không, việc tách rời xảy ra êm thắm không một tiếng động. Ngồi trong xe, thật sự tôi không hiểu đoàn xe đã được tách ra như thế nào. Vài ngày sau, khi trở lại nhà ga Morioka tình cờ tôi mục kích một sự kiện ngược lại là hai đoàn xe Shinkansen đang ráp hai đầu vào nhau. Cái "móc" của xe là một bộ phận cơ điện mang đầy bộ cảm biến (Hình 2). Hai đoàn xe từ từ xê dịch cho đến khi hai cái móc nhẹ nhàng liên kết vào nhau như hai chiếc tàu vũ trụ "docking" trong không gian. Tất cả hoàn tất trong vài phút. Đoàn xe dài ngoằn gấp đôi như con rắn khổng lồ điềm nhiên phi mã hướng về Tokyo với vận tốc 300 km/h.  
Hình 2: Cái móc công nghệ cao ráp nối hai đầu xe.

Người Nhật tỉ mỉ với những chi tiết và có tinh thần "kaizen" (cải thiện) không ngơi nghỉ. Họ áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao sự tiện nghi và thoải mái trong cuộc sống. Chiếc xe lửa lúc xưa chỉ là một đoàn tàu chạy bằng than phun khói mù mịt. Nhưng khi có "kaizen" thì xe lửa biến thành xe siêu tốc và cái móc nối toa xe trở nên một thể loại công nghệ cao. Sau chiếc xe Shinkansen, người Nhật thực hiện một cuộc cách mạng âm thầm khác là đưa ứng dụng khoa học kỹ thuật và tinh thần "kaizen" vào một chỗ không ngờ: nhà vệ sinh. Họ đưa cái khoái thứ tư (người Nhật có khoái thứ năm: tắm suối nước nóng) cao lên thêm một bậc. Vài mươi năm trước, nhà dân phần lớn chỉ có bàn cầu ngồi xổm đặc trưng châu Á và không nước dội. Mùa hè trời nóng, người Nhật dù nổi tiếng ăn ở sạch sẽ vẫn không khử được cái mùi thum thủm phảng phất bay ra từ một góc khuất sau nhà. 

Nếu xem nhà vệ sinh là một tiêu chuẩn đánh giá trình độ văn hóa của một nước thì Nhật có lẽ đứng đầu trong việc nâng cao văn hóa qua một quá trình tiến hóa, ngắn hơn quá trình vượn biến thành người, từ kiểu ngồi xổm của thuở hồng hoang đến ngồi thẳng kiểu Tây thời hiện đại và hơn cả Tây với cái bàn cầu công nghệ cao mang đến cho người sử dụng một cảm giác vô cùng thoải mái. Vì vậy ngày nay bàn cầu công nghệ cao được phổ biến khắp nước Nhật từ thành thị đến thôn quê, từ nhà dân, khách sạn đến các nơi công cộng. 

Bàn cầu này thoạt nhìn cũng như các loại bàn cầu thông thường khác nhưng chiếc pa-nô nhiều nút bấm được gắn vào một bên. Chức năng bàn cầu nhiều ít tùy theo giá cả thấp cao và sản phẩm tiên tiến nhất có lẽ thuộc về công ty Panasonic. Sự chu đáo của các nhà sản xuất với sự lưu tâm đến các chi tiết nhỏ nhặt không bao giờ làm phụ lòng khách hàng. Chẳng hạn, mặt tiếp giáp của bàn cầu lúc nào cũng được sưởi ấm. Người sử dụng sẽ không thót người vì "sốc" lạnh khi ngồi lên trong những ngày mùa đông giá buốt. Một nút bấm để phun nước rửa. Nút bấm nước thứ hai đặc biệt cho phe tóc dài. Sang hơn, có nút điều chỉnh nhiệt độ nước, một nút điều chỉnh cách phun của nước, nước phun từng chập như súng bắn tự động hay phun liên tục thành vòi. Và để hoàn tất công trình thì có một ống phun không khí ấm xấy khô… Sang hơn nữa, khi xong việc đứng lên thì bộ cảm ứng của bàn cầu nhận ra sự khác biệt trọng lượng sẽ kích động bộ phận xả nước. Chưa hết, sau màn xả nước thì có một thiết bị như chiếc quạt hút rất mạnh không khí hôi trong bồn cầu. Tôi cúi xuống quan sát nhưng tìm không ra cái "quạt" cao tốc và cũng không hình dung được không khí được thải ra hướng nào, chỉ biết khoanh tay đứng nhìn. Ôi! Thật là sự vĩ đại ẩn trong cái dung tục bình thường. Không biết bao nhiêu con chip transistor, bộ cảm ứng, bộ dẫn động (actuator) cài đặt trong cái bàn cầu thông minh này. Đối với một kẻ phàm phu như tôi, mỗi lần hành sự là một cuộc hành trình văn minh, sạch sẽ, thoải mái và vô cùng thỏa mãn! 

Chiếc bàn cầu công nghệ cao phản ánh tinh thần Nhật Bản một cách cụ thể. Người Nhật không chú trọng đến việc làm toán giỏi để được cái tiếng thông minh. Từ lúc có những cuộc thi Olympic, người ta không bao giờ thấy có sự chiến thắng của học sinh Nhật. Nhưng người Nhật được giáo dục để hiểu cái lý của sự vật (vật lý) tận tường. Trong một chương trình tivi, đài tivi treo giải thưởng vài mươi ngàn đô la cho ai chế tạo ra một cái chảo có thể chiên được 20 quả trứng cùng lúc bằng một cái bếp gas bình thường. Tất cả trứng phải được chiên riêng lẻ và tròng đỏ phải chín đồng đều giống nhau. Hai nhóm cuối cùng vào chung kết là hai cha con chuyên nghề làm đồng thiếc và một tiến sĩ chuyên gia về truyền nhiệt. Sau nhiều lần thiết kế, hai cha con đoạt giải với cái chảo đồng nhiều tầng chiên được 20 trứng so với 8 của ông tiến sĩ. 

Thậm chí, việc trang điểm, trang phục cũng được giải thích trên các cơ sở quang học. Một giáo sư vật lý trong chương trình tivi làm đẹp giảng giải nguyên lý của ảo giác quang học đánh lừa bộ não trong việc trang điểm, tại sao đôi mắt nhìn to hơn khi có lằn viền xung quanh mắt. Nhưng viền đen quá thì trở nên kệch cỡm. Nhạt quá thì mất hiệu năng. Vậy phải chọn sao cho gam màu thích hợp với làn da để có thể "ngụy trang" tạo ra ảo giác tối đa. Người béo tròn muốn trở nên thon thả trong ảo giác thì nên chọn quần áo có sọc thẳng đứng. Tương tự, một khuôn mặt bầu bỉnh muốn tạo ảo giác trái soan thì phải cần vài lọn tóc lòa xòa buông xuống… Không gì ngạc nhiên khi những công ty sản xuất mỹ phẩm như Shiseido hay các nhà thiết kế trang phục trở nên nổi tiếng, làm ăn khấm khá cũng nhờ những nguyên lý quang học đơn giản này.

Tôi tiếp tục đi tìm lá đỏ mùa Thu, từ Aomori trở lại thành phố Morioka băng ngang đảo Honshu và dừng chân trên các thành phố Akita, Sakata, Niigata và Kanazawa dọc theo bờ biển Nhật Bản. Những thành phố này là mặt sau của Nhật Bản sống bằng canh nông, có mùa đông khắc nghiệt, ít người lui tới nhưng rất giàu văn hóa truyền thống. Akita nổi tiếng nhiều người đẹp chỉ sau con gái cố đô Kyoto và là nơi độc nhất làm nước mắm "shottsuru" trong một xứ sở nước tương, rất giống mùi vị nước mắm của ta, với món lẩu cá "shottsuru" tuyệt ngon. 

Sakata được bao vây bởi những cánh đồng lúa bát ngát và cũng là một trong những nơi sản xuất lúa gạo nhiều nhất nước Nhật từ xưa. Cái tên "Sakata" viết ra tiếng Hán là "Tửu Điền"; tửu = rượu, điền = ruộng. Phải chăng nơi đây nhiều ruộng rẫy và sản xuất nhiều rượu sake từ gạo nên có tên "Tửu Điền"? Câu chuyện có thật của cô bé tên Oshin lớn lên ở thị trấn Sakata nghèo khổ đã được biến thành truyện dài tivi nhiều tập làm biết bao người xem sụt sùi thương xót. "Oshin" được dàn dựng ở Sakata nên thị trấn buồn tẻ này bỗng nhiên trở thành địa điểm du lịch của những người từng rưng rưng nước mắt cho Oshin. 

Một trong những hoạt cảnh xuất hiện trong "Oshin" là vựa lúa Sankyo. Sakata có vựa lúa Sankyo với 12 kho chứa khổng lồ có 120 năm tuổi đời (Hình 3). Vựa lúa được xây cất theo chuẩn mực khoa học. Mái nhà hai bậc chừa chỗ hở để không khí luân lưu. Nền nhà có trộn một loại hóa chất gọi là magnesium chloride (MgCl2) để khử hơi nước trong không khí giữ được hạt gạo lâu dài mà không bị mốc. Xứ ta là xứ nông nghiệp khí hậu ẩm thấp, nhưng chưa bao giờ nghe thấy việc làm vựa lúa theo bài bản khoa học như Sankyo. Cho đến ngày nay, vựa lúa vẫn còn sử dụng. Sankyo là niềm tự hào của người dân địa phương vì nó biểu hiện sự phồn vinh của Sakata và đóng góp vào sự sống còn của đất nước. Nhưng nông nghiệp bây giờ đang chịu một sức ép trong ngoài. Chính phủ bảo nông dân không nên sản xuất quá nhiều gạo vì phải mua gạo nước ngoài để cân bằng ngoại thương. Vốn đầu tư vào nông cơ, thiết bị quá nhiều nhưng nhà nông mỗi năm chỉ dùng hơn một tuần cho mùa gặt hái. Nông dân trở nên nghèo. Trong nhà thì "cha muốn truyền, nhưng con không nối". Bọn trẻ bỏ nhà ra đi tìm cơ hội ở những chốn phồn hoa. Ở lại chỉ chuốc lấy nỗi cực nhọc tay lấm chân bùn và thêm nỗi buồn tìm không ra cô vợ.

Hình 3: Vựa lúa Sankyo

Chiếc xe bus du lịch chở chúng tôi xuyên qua một vùng đồi núi trùng điệp gần Sakata đến một ngôi chùa cổ ngàn năm, nay là quốc bảo. Bất ngờ, tôi gặp bức tượng gầy guộc của nhà thơ Basho. Tôi hỏi anh hướng dẫn viên tại sao tượng Basho lại ở chốn thâm sơn tĩnh mịch này. Anh bảo Basho đã từng lãng du ở đây, tức cảnh sinh tình làm nhiều bài haiku tuyệt tác. Matsuo Basho (Basho: Ba Tiêu, cây chuối) (1644-1694) là một đại thi hào thơ haiku Nhật Bản, có tầm vóc như Nguyễn Du của Việt Nam. Nhưng Basho khác Nguyễn Du ở chỗ là thích ngao du thiên hạ. Nhiều người hâm mộ và đệ tử tặng ông tiền, hiện vật, ông hoan hỉ nhận, nên không cần phải lo chuyện cơm áo mà chỉ theo tiếng gọi của đôi chân trở thành một lãng tử thuần thành cho đến cuối cuộc đời. Ông đi một vòng lớn của đảo Honshu lên miền Tohoku vòng qua bờ Tây Nhật Bản. Chuyến lãng du được chép thành quyển "Oku no hosomichi" (Lối mòn lên miền Oku) gồm những bài tản văn du ký và thơ haiku để ghi lại những cảm nhận trên bước lữ hành, thưởng ngoạn cảnh đẹp và niềm vui gặp bạn. Khi tham khảo quyển "Việt Nam và Nhật Bản Giao lưu Văn hóa" của học giả Vĩnh Sính, tôi mới biết "miền Oku" của Basho cũng không khác với lộ trình đi tìm lá đỏ mùa Thu của tôi. Lộ trình đó cũng gần 3000 km. Basho cùng đệ tử khăn gói băng rừng vượt suối đi bộ trong nhiều năm, nhưng tôi vác ba lô đi xe lửa trong vài ngày. Và ngẫu nhiên, tôi được gặp ông trước ngôi chùa cổ kính này mà xưa kia chắc là nơi thâm sơn cùng cốc. 

Chuyến xe lửa nhà quê chạy dọc theo bờ biển Nhật Bản cuối cùng đưa tôi đến thành phố Kanazawa. Nơi này từng là chốn kinh thành nơi ngự trị của lãnh chúa trong vùng. Bây giờ, Kanazawa vẫn một thành phố trung tâm vùng Hokuriku (Bắc Lục) như một ngôi sao tỏa sáng làm vơi đi cái ảm đạm của bờ Tây buồn tẻ. Nền văn hóa lâu đời của Kanazawa được phản ánh bởi phố Chùa (Tera Machi) và công viên Kenroku-en (Kiêm Lục Viên) một trong "tam đại đình viên" của xứ Phù Tang. Tuy không hoành tráng và giàu có như vùng Kyoto – Nara, khu vực Tera Machi tập trung hơn 70 ngôi chùa lớn nhỏ có lịch sử dài hơn 500 năm. 

Gần Tera Machi có một ngôi chùa được mang tên là "Thiên Đức Viện" (Tentoku-in) được xây cất hơn 400 năm trước để tưởng niệm công nương Châu (Tama Hime). Công nương Châu là cháu nội của Tướng Quân Tokugawa Ieyasu người đã thống nhất nước Nhật mở ra thời đại Edo rực rỡ kéo dài gần 300 năm. Thời đại Edo chấm dứt vào năm 1868 để nhường bước cho cuộc vận động Minh Trị Duy Tân. Dòng họ Maeda là phiên chủ (lãnh chúa) của xứ Kanazawa. Công nương Châu được đưa về làm dâu lúc 3 tuổi và chính thức thành phiên chủ phu nhân lúc 14. Người dân xứ Kanazawa yêu quý công nương vì nhờ nàng mà tránh được cuộc chinh phạt của đại quân Tokugawa. Hồng nhan bạc mệnh, nàng sinh được 7 người con và qua đời năm 24 tuổi sau một cơn bạo bệnh. Phiên chủ Maeda thương tiếc khôn nguôi nên dựng lên "Thiên Đức Viện" để tưởng nhớ nàng. Mối tình phu phụ chung thủy của phiên chủ giống như một vị vua Ấn Độ xây đền Taj Mahal để tỏ lòng thương tiếc người vợ qua đời ở tuổi xuân xanh.

Cuối cùng, tôi đã tìm thấy lá đỏ mùa Thu trong khuôn viên nhà chùa Thiên Đức (Hình 4). Những tàng cây phong xen lẫn trong những cây tùng cao to xanh mướt làm nổi bật màu đỏ rực của muôn chiếc lá thu. Một cơn gió thoảng lay động những chiếc lá đỏ đong đưa rơi xuống như cánh bướm, phủ lên con đường nhỏ dẫn vào chánh điện. Trong không gian tĩnh mịch, chợt nghe văng vẳng tiếng thơ haiku của Basho từ thuở xa xưa vọng lại, 

Hito koe ya 
Kono michi kaeru 
Aki no kure 
(Matsuo Basho) 

Lao xao vẳng tiếng người 
Trên đường về ngập lá 
Chiều cuối thu buồn rơi 
(Quỳnh Chi phỏng dịch)

Hình 4: Trên đường về ngập lá 

Tokyo có phố Kanda mua bán sách cũ và sách cổ. Trình độ văn hóa của một cộng đồng, một khu vực hay một nước cũng có thể đánh giá qua sự hiện hữu của các hiệu sách và chất lượng sách. Tôi trở về Tokyo để tìm lại con phố Kanda. 

Gần 100 năm nay, phố Kanda nổi tiếng trong giới sinh viên, giới hàn lâm, trí thức và người sưu tầm sách. Thời sinh viên, tôi nghiện đi phố Kanda, cho nên vài tháng phải đi "hành hương" một lần. Có lúc ít tiền không mua được sách, nhưng đi lang thang trên phố, đứng trong hiệu sách cũ thoang thoảng mùi meo mốc đặc trưng, từ tốn lật tới lui vài trang sách thì cũng thỏa được cái thú vui tinh thần mà không tốn một xu. Mỗi lần trở lại Tokyo, lúc nào tôi cũng tìm thời gian quay lại phố Kanda như tìm gặp lại người bạn cố tri. Âm thầm đi vào ngõ ngách của con phố cũ tìm lại những dấu ấn của một thời đi học. Có hiệu sách nhỏ, ông chủ lúc đó đã vào tuổi "thất thập cổ lai hi". Ông lúc nào cũng bận rộn, khi thì cặm cụi sắp xếp sách lúc thì cầm sách ngắm nghía ra chiều nâng niu. Dù bán cũng không lời bao nhiêu, nhưng ông chỉ có niềm vui là mua bán sách. Những hiệu sách nhỏ đó giờ đây trở thành quán ăn, hiệu tạp hóa. Không phải vì sự tràn ngập của eBook hay Amazon kindle mà đơn giản là không người nối nghiệp. 

Người Nhật thích đọc sách, dù rằng giới trẻ ngày nay chỉ chăm chú vào màn hình nhỏ nhưng lượng sách in ra thì không bao giờ giảm. Ở cuối trang nhất của những tờ nhật báo, lúc nào cũng có quảng cáo của sách mới phát hành. Có lẽ không có nước nào trên thế giới đăng quảng cáo sách trên trang nhất như báo Nhật. Sách Nhật có đủ thể loại, từ các loại sách hoạt hình anime mang tính kích dục đến sách nghiên cứu, khảo luận, những bộ bách khoa từ điển chứa hàng chục quyển về triết học, tôn giáo, văn chương, khoa học. Sách chính trị phản ánh trào lưu chính trị đương đại. Sách "cánh tả" phản chiến, sách về chủ nghĩa Mác – Lê nin, chủ nghĩa quân phiệt Nhật, sách về các nhà lãnh đạo xã hội chủ nghĩa, tràn đầy kệ sách trong thập niên 70. Thì bây giờ là sách "cánh hữu" thoang thoảng mùi chủ nghĩa dân tộc hay phân biệt chủng tộc như sách bàn về "tiểu khí" của người Trung Quốc, Trung Quốc không thể nào vượt qua Nhật Bản, sự khác biệt giữa người Hàn Quốc, người Trung Quốc và người Nhật Bản v.v… 

Sách khoa học có phần dễ thở hơn có lẽ vì không ai có thể chối cãi được sự hiển nhiên của quy luật 1+1 =2! Sự phong phú của sách khoa học tiếng Nhật cộng với sách dịch từ những sách giáo khoa kinh điển Anh, Mỹ đã tạo cho nước Nhật một địa vị độc tôn về khoa học công nghệ trong vùng Đông Á và cả thế giới. Người Nhật có niềm kính trọng và ưu ái đặc biệt đối với Einstein dù vẫn biết rằng ông đã từng viết thư đến tổng thống Mỹ Roosevelt đề xuất việc chế tạo bom nguyên tử. "Thuyết tương đối" được viết đi viết lại từ dạng khoa học đại chúng đến giáo khoa hàn lâm bởi nhiều tác giả qua nhiều thời kỳ nhưng vẫn còn hấp dẫn độc giả. 

Du khách thập phương đến Nhật không ai không mềm lòng trước nụ cười lịch lãm ân cần, cái cúi đầu chào gập người tôn kính của người Nhật. Sức mạnh mềm lúc đó được phát huy tột độ. Nhưng trên chính trường, cái chào gập người mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Con cháu của Thái Dương Thần Nữ đã từng là một dân tộc viễn chinh với bàn tay sắt máu. Thanh kiếm katana đã từng vung lên loang loáng khắp đại lục Trung Hoa, bán đảo Triều Tiên và cả một vùng rộng lớn Thái Bình Dương. Lịch sử đã chứng tỏ rằng, khi cái chào của một kẻ thắng thế dù có gập người thì không bao giờ có ý nghĩa khiêm cung hay tôn kính mà là thái độ chỉ có thể diễn tả bằng tiếng Nhật là "ingin burei" (ân cần vô lễ). Một thái độ đặc thù Nhật Bản biểu lộ sự lễ độ ngoài mặt nhưng cố tình thị uy cái hống hách bên trong. Trải nghiệm điều này không ai thắm thía hơn người Trung Quốc và Hàn Quốc. Nhiều năm gần đây, cố ý hay vô tình, những hận thù cũ lại được dịp phơi bày. Mưu mô chính trị chỉ khơi gợi lại những ký ức đau thương không cần thiết. Nhiều người Trung Quốc thức thời thốt lên lời cảnh giác, nhắn nhủ tới đám hậu sinh rằng, "Chớ nên gọi người Nhật là "tiểu Nhật Bản". Họ đáng sợ lắm. Cũng đừng huênh hoang tự hào rằng ta là dân tộc có truyền thống anh hùng. Trong thời chiến, một người Nhật đã điều khiển một trăm người Trung Quốc như một đàn cừu. Một người lính Thiên Hoàng với vài quả cơm nắm đã chiến đấu với mười người của ta cho đến khi gục ngã." 

Nhưng nước Nhật ngày nay đang đứng trước một vấn nạn. Xã hội đang bị lão hóa. Người già gia tăng. Người trẻ chỉ muốn sống độc thân, nếu có lập gia đình thì cũng lười biếng sinh con. Cái biểu đồ hình tam giác biểu hiện sự cân bằng về phân phối dân số với tuổi tác đang bị biến dạng một cách thảm hại. Đường sá ở những vùng quê buồn tênh không một bóng người. Dân số tụt giảm đáng sợ. Nhiều cửa hàng bách hóa phải đóng cửa vì vắng khách. Trường học không đủ học trò. Người trẻ Nhật đa phần vô tư trước thời thế, hoang mang trước lịch sử. Giấc mộng "phú quốc cường binh" dù lặp lại cho thế kỷ 21 bằng cách gia tăng dân số như thời Minh Trị Duy Tân chẳng qua cũng chỉ là giấc mộng. 

Có cái gì rất mong manh nhưng cũng rất kiên cường trong xã hội và con người Nhật Bản. Như những chiếc lá thu đẫm ướt bởi những hạt mưa phùn, bay tơi tả trước ngọn gió đầu đông lạnh lùng không thương tiếc. Rồi mùa Thu năm sau muôn ngàn lá đỏ sẽ tưng bừng trở lại, vẫn kiên cường không bao giờ dứt. Thu, Đông, Xuân, Hạ, rồi lại Thu...

                                                                                                                           Trương Văn Tân  
                                                                                                                         Cận Giáng Sinh 2015