Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao Vị Khanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao Vị Khanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2025

Và Em, Và Nỗi Sầu Khổ Dịu Dàng


Khi tôi thấy em lần đầu ngước nhìn tôi, từ giữa một lớp học đông người, buổi sáng tháng chín năm đó, tôi biết giữa chúng ta thiên thu đã phong kín hết mọi lối ra.

Bữa hôm đó đâu có lạ gì hơn những sớm mai khác. Mặc dầu cơn mưa bất chợt nửa đêm có làm tôi thức giấc rồi thấy dạ có chút bâng khuâng trong căn phòng nhỏ ở một khách sạn tỉnh lẻ. Tiếng nước chảy xối xả đến sốt ruột có làm tôi bồi hồi nhớ lại con sóng vỗ ngang khi qua phà Vàm Cống, nó còn đưa xa tôi tới những con sóng đã vỗ tăm tắp giữa lòng... mấy lượt đưa người đi, dù không đưa qua sông. Một giây? Một phút ? Không lâu hơn một thoáng. Rồi tôi ngủ lại cho tới khi tiếng đồng hồ báo thức gọi dậy. Có gì đâu.
Khi tôi ra đường thì thành phố đã tỉnh queo. Mấy con chim sẻ nhí nhảnh vừa rỉa lông vừa rủ rỉ trên hàng dây điện đường. Hàng me xanh lướt thướt, reo lá lanh chanh. Không khí ướt sũng đêm qua, sáng nay đã ráo hoảnh. Tôi ghé chiếc quán đầu tiên, gọi ly cà-phê đậm, đốt hơi thuốc đầu ngày nhớ mình đương là khách lạ.
Tôi rời Sài-gòn hôm qua, bỏ lại đó phố xá chưa quên và mấy người tình không còn nhớ. Tôi tới thành phố của em, lần đầu. Ngụm đắng thứ nhất đã thấy quen quen. Ngụm đắng thứ hai đã thành thân thiết. Khói tụ quanh quanh, lòng nhẹ hẫng. Tại sao ? Không chừng tại phố nhỏ. Không chừng tại một cái gì đó đã sẵn có trong tôi. Một cái gì đó, ai biết được.

Rồi tôi gọi chiếc xích-lô bảo đưa tới trường. Qua chiếc cầu sắt nhỏ trước chợ thấy mấy vạt áo dài lấm tấm nắng mai, tôi thấy lại y nguyên lòng tôi náo nức tựu trường hai mươi mấy năm trước. Bởi vậy sao cái gì cũng nhớ nhớ quen quen mà thật ra đâu có gì để quen để nhớ. Tôi có tới chỗ này lần nào đâu mà sao không thấy lạ. Con nước chảy xuôi ra biển, miếng ván cầu kêu lục cục dưới sàn xe, con đường nhựa có hai lề cỏ ướt rịn làm rụt rè mấy đôi guốc nhỏ, lá me rơi sấp sải trên vai trên tóc và tiếng cười khúc khích giấu rịt sau vành nón lá ... tất cả chỉ là bóng của những hình đã trầm tích trong tôi, lâu đến nỗi như có đó mà không còn đó nữa ...
Chắc tại vậy mà cho đến khi tôi vừa rẽ ngoặt vào lớp, đi vài bước để đứng lên bục giảng, đưa mắt ngó xuống khẻ chào lại lớp học vừa đồng loạt đứng lên thì mắt tôi chạm phải mắt em, đôi mắt em, ờ, sao tôi thấy như đã thấy đâu từ tiền kiếp. Đã thấy đâu rồi không biết nữa mà y thể như xưa. Đã gặp đâu rồi không biết nữa mà như vốn đã hẹn hò mấy lượt.
Nắng hiên ngoài lao chao, sấp ngửa. Em dưới đó, rối ren hai con mắt. Tóc xô dạt nửa lừng, thắc thỏm từng sợi nhỏ. Giữa em và tôi, thiên thu tự dưng chết sững, không gợn một áng phân vân.
Em ở lại trong tôi, từ đó, ba mươi năm sau không một chút phôi pha. Em ở lại trong tôi, từ đó, dẫu năm năm đầu không một chút ngó ngàng. Em còn ở trong tôi, hai mươi lăm năm sau mới gặp lại để cùng tôi phát giác ra cái nhà ngục mênh mông đã giam giữ chúng ta, biền biệt ở hai phương.
Em yêu dấu, đến giờ này em cho tôi được gọi một lần hai tiếng dấu yêu dù chỉ là tiếng gọi giữa thinh không. Bởi vì giữa chúng ta đã trùng trùng bổn phận và trách nhiệm. Giữa chúng ta, oan khiên đã lắm nỗi thì dẫu gọi trăm lần cũng chỉ như tiếng đập thảng thốt của con tim héo mỏi, nghe ra như giọng oán của tiếng chim kêu chiều. Dù vậy, tôi xin được gọi em lần nữa, nhen em.

Em yêu dấu,
Sức mạnh nào đã đẩy chúng ta ra xa dù rằng khoảng cách ngắn còn gần hơn gang tấc. Không gian nào đã bứt lìa chúng ta khi lòng mình vốn phải là chỗ trú ẩn của nhau, đến cùng.
Tôi sẽ phải giải thích thế nào khi mọi lời nói đã rã rời ngay khi môi mới vừa ướm chữ. Tội nghiệp cho chúng ta, những câu nói đẩy đưa... quá đỗi vô tình dẫu rằng giữa lòng mình tiếng yêu thương nhiều không biết cơ man nào mà kể. Nhưng mà có đáng gì không, chính lòng ta ta đã để lỡ.

Năm năm. Thành phố của em và những cơn giông đầu hạ. Tôi kiêu căng như loài công tốt mã, xum xoe những điệu tình ngả ngớn, điêu ngoa. Đời bày cuộc vui cho tôi nông nổi. Tôi lang bạt bất kể mà cứ tưởng như đằng sau khung cửa sắt thời gian cũng đóng lại, để chờ.
Năm năm. Em lớn thầm như một đóa tường vi, khép nép giữa mấy dãy lầu rêu, phố chợ. Mấy buổi tôi lên lớp, em ngồi thu mình như viên sỏi nhỏ bỏ quên trong túi áo, cam lòng. Tôi vô tâm đùa cợt với chữ nghĩa kiêu sa mặc em ngơ ngác giữa trường và đời, giữa mộng và thực. Có lúc nhìn lại thấy áo em trắng tinh thả lỏng đường eo thắc thỏm, bỗng làm tôi ái ngại. Hai con mắt xốn xang một niềm ăn năn rất lạ. Em mong manh đến hồn tôi độ lượng, tôi bỏ đi làm con thú dữ, hoang đàng.
Năm năm vừa đủ ngắn cho em bước vội. Chừng ngó lại, em đã ra khỏi vòng tay tôi hồi nào. Dĩ nhiên, không ai phiền trách chi em. Chính cả tôi, cũng không có gì đáng trách. Em xa như sương khói vây quanh mà gần như lá cỏ trên tay, niềm bí ẩn của riêng em như sức hút của một loài ong chúa. Bạn bè em, bầy đàn vừa lứa đó... Còn tôi, ở bên này bờ ranh nghiệp chướng, tôi đành đoạn làm kẻ bao dung. Cho dù sự rộng lượng lạ lùng này cũng chỉ là phản ứng trốn chạy của một tấm lòng kiêu ngạo. Tôi có ở cùng cương vị của em và bạn bè em đâu. Chắc vì vậy, lắm lúc vô tình gặp em và bạn ở chỗ hẹn hò, không biết tại sao tôi lại có cảm giác thấy một chút gì đó hao hao khói đục bốc lên từ đôi mắt em, giống như một niềm cay đắng. Cũng giống y như niềm cay đắng đang cố giấu trong tôi.
Năm năm.Tôi nhìn thấy em đi lại, trên những con đường tôi đã đi. Những con đường có hoa có bướm, có chút mộng đầu và rất nhiều thơ dại. Tôi bằng lòng nhìn em vui đùa, ngúng nguẩy làm duyên giữa những mời mọc líu ríu nghe thương như bầy sẻ gọi nhau. Con đường tình em đi có bãi cỏ non và gót son qua rất nhẹ, có gió rất lành và cây trái rất thơm, có biển vừa xa mà sông nước lại gần... Nghĩa là có tất cả cái diễm kiều của trời đất mà người ta không thấy nữa khi tới một tuổi nào đó. Dẫu sao tôi đã sung sướng cho em tuổi thiếu nữ hẹn hò giữa một vùng đất cát thân quen. Tôi cảm tạ trời đất đã rải nắng vàng và trăng xanh cho em tình tự.
Năm năm tôi mất em mà vẫn thấy an tâm. Hay là giữa chúng ta, tôi biết chắc thiên thu dù có lơ đễnh cũng không hề sơ sẩy. Rồi phải đến một lần, chúng ta là của nhau.

Vâng, phải có một lần, chúng ta là của nhau.
Lần đó, hai mươi lăm năm sau mới đến. Cái khoảng cách tưởng như không cùng đó đủ cho mọi mường tượng đều sai lạc. Chẳng hạn như tôi đã già đi như nhánh cây khô, và con tim tôi đã mục rã như chiếc lá rụng đâu từ lần thu trước, nằm sắp lớp dưới mấy lớp lá thu này. Chẳng hạn như cuộc tình thời trẻ dại thoáng đến thoáng đi như mưa bóng mây có khi không đủ ướt đất. Chẳng hạn như em đã là thiếu phụ, điềm đạm và ân cần, trái tim dành cho chồng con đã chật kín đến không còn một chỗ trống. Vâng, tất cả đều đúng nhưng không đúng hết. Như tôi đã già đi nhiều, tâm đã thôi xốc nổi mà sao đôi khi cứ loáng thoáng một niềm ray rứt rất lạ. Như em đã yên nơi yên chỗ từ hơn hai chục năm rồi mà trong lòng vẫn có chỗ không yên. Và nhất là mối tình chưa bao giờ xác nhận tưởng đã chết rục tự đời nào vẫn còn kiên nhẫn nằm chờ như nàng công chúa kiên nhẫn nằm ngủ trong rừng, ngủ im chỉ để chờ nụ hôn tình gọi dậy. Dĩ nhiên thời gian cũng đã tàn phá hết có chừa lại gì đâu. Nó gặm nhấm lần mòn những sắt son bạc bẽo, những yêu thương ghét bỏ, ngay cả hạnh phúc và khổ đau. Có một điều cái thứ tình vô vọng nó dai dẳng léo lách đến chẳng ai ngờ. Nó không để bị hủy diệt mà chỉ chờ được hoá thân như chén ngọc Trương Chi cứ chờ nước mắt Mị Nương khóc cho một lần rồi mới chịu tan vào huyền sử.

Khi tôi thấy lại em lần đầu, sau hai mươi lăm năm mất biệt, ngước nhìn tôi từ đám đông nhốn nháo giữa phi trường Orly một buổi sáng tháng chín Paris, tôi biết giữa chúng ta, thiên thu đã đúng hẹn.
Em lăng xăng bên chồng, miệng cười mà con mắt xốn xang, đón tôi bằng cái vòng ôm lỏng như không. Mấy con rồi em còn vẫn rụt rè. Một chút tuổi tác có làm trễ vành mi sắp mỏi. Còn lại, em vẫn là em. Một thoáng thiết tha. Nửa chừng xa lạ. Niềm bí ẩn của em còn nguyên đó. Ba mươi năm sau lần đầu, chúng ta nhìn nhau lại bằng con mắt tiền kiếp. Có chút gì rưng rưng không thấy kịp.
Xe về qua mấy phố xưa, Paris vàng lịm khi thu vừa chín tới. Quán cà-phê hè đường đầy những cặp tình nhân ngồi thủ thỉ. Lá từng chiếc, nấn níu bay ngang. Paris chào người đến thay em bằng bộ mặt buồn buồn của phố thị chuyển mùa. Đẹp đến não nùng. Bữa tiệc tái ngộ có rượu vang đỏ ngọt chát, có giọng cười hào sảng của người chồng rộng lượng, có em ngồi đối diện mà có lúc tưởng chừng đi đâu vắng. Em ở đâu trong mịt mùng năm tháng, yêu thương câm nín và chạy đuổi nhau qua bãi đời vô vọng. Em ở đâu, mà suốt một đoạn trường.
Mấy ngày liên tiếp, em đưa tôi dạo chơi khắp thành phố. Chỉ cho tôi pho tượng trắng nhỏ cuối vườn Lục Xâm Bảo tôi hay kể em nghe những mùa tựu trường xa trước. Dắt tôi lội trên con đường ngập lá cho tôi nghe lại tiếng thu rơi như tôi đã dạy em trong những giờ giảng văn ở một thành phố không có mùa thu. Đưa tôi đến ngồi ở một quán vắng khách, gọi cho tôi tách cà-phê đen, nghe lại dĩa nhạc Juliette Gréco hát thơ Jacque Prévert như đã có lần em nghe tôi mơ ước. Khói thuốc Gitane rối xanh như mấy dòng kỷ niệm. Có lúc tôi tưởng chừng thời gian muốn chạy ngược lại, ba mươi năm, để tôi còn có dịp tỏ tình. Giả sử bây giờ là ba mươi năm trước, em có chịu yêu tôi ?

Câu hỏi không được đặt ra. Em ngồi ngó mông lung ra đường, chiều gần tối. Câu hỏi không được đặt ra. Nhưng tôi biết. Ở một góc nào trong trái tim em, vẫn còn một chỗ trống, có thể rất nhỏ, nhưng vẫn là một chỗ trống, em còn để lại cho tôi. Từ một hốc tối nào của đôi con mắt thao thức không nguôi, hình như có một chút lệ, mờ lắm, nhưng mà là một chút lệ. Tôi biết. Em không thể quên. Giống như tôi. Tôi không thể quên. Dù rằng chúng ta chưa hề cố nhớ. Khi xa nhau không ai thề thốt. Không ai nợ ai chút tình. Thì chẳng ai đòi trả. Sao chúng ta vẫn muốn trả nợ cho nhau.
Khi tôi đưa em về, người bồi còn ngắt vội đóa hồng nhung trên bàn tặng vói cho em. Cánh hoa chưa úa đã thấy buồn. Em cầm trên tay, đóa hoa chúc xuống mặt đường như một nụ tình đã héo. Đôi mắt em còn xốn xang hơn vì sao hôm mọc sớm, lấp ló sau tàng cây phong trụi lá. Hai người đi dọc theo một vỉa hè vắng ngắt. Bộ quần áo thanh lịch, sậm đen như một khúc tạ từ. Khi ngang qua cầu St. Michel, em ném cánh hoa xuống con sông Seine đang bốc khói. Nước chảy mau. Chân cầu đứng lại. Hoa và người sao trôi nổi như nhau.

Bữa chót, trên đường ra phi trường, em chỉ cho tôi cái gác chuông mà Quasimodo đã đeo vắt vẻo như đã đeo đong đưa mối tình tuyệt vọng của mình. Có phải em muốn nhắc tới cái bướu mà thằng gù đã đeo nặng. Hay cái khối dĩ vãng đang trì kéo giữa lòng. Có điều tôi biết nụ cười thách thức của em là để xác nhận cả hai đều nhẹ lắm so với cái hạnh phúc mà chúng ta đã để mất. Em cám ơn tôi đã tới sau ba mươi năm đã đợi. Còn tôi, tôi cám ơn đời đã giữ em tròn vẹn, y nguyên cái hình ảnh tôi đã có về em từ ba mươi năm trước. Bỗng nhiên tôi thấy thanh thản, yên lòng. Em cũng vậy, em ứa nước mắt mà miệng cười. Dù gì, sau rốt, chúng ta cũng đã có dịp nói với nhau sự chung thủy của mình về lần chọn lựa hồn nhiên nhất.

Khi tôi ngoái lại nhìn em lần cuối trước khi quay lưng đi hẳn vào hành lang dẫn ra phi cơ, tôi biết giữa chúng ta, thiên thu đã thôi động đậy. Còn lại một mình giữa phòng đợi mênh mông, dáng em mỏng mảnh như cái dấu phẩy bỏ lỡ sau câu viết nửa chừng. Đã chấm hết đâu, trong lòng ta những xao động. Sẽ còn nữa, những dư ba. Tuy nhiên cả hai, tôi và em sao đã thấy rất yên lòng. Có phải câu thơ của ai đó mà đêm qua khi ngồi nghe lại mấy bản nhạc xưa em đã đọc nhỏ lầm thầm là cái giải pháp tuyệt vời cho chúng ta. Mốt mai sóng dậy ba đào. Xin về trú giữa lòng nhau, cuối đời.

Cũng đủ rồi, em hả.

Cao Vị Khanh


Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2025

Một Nửa


Môi người nửa nụ còn son
nửa kia héo mỏi lệch đường chiêm bao.
Mai rồi xuôi ngược trúc đào
lấy gì dẩn lối ngõ vào thiên thu.

Cao Vị Khanh


Thứ Tư, 16 tháng 10, 2024

Theo Hoàng Thi Thơ, Đi Tìm Lại Đường Xưa Lối Cũ


Thử thêm một lần, nghe lại bài hát ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ của HOÀNG THI THƠ với cảm nghĩ của một kẻ chẳng biết nhạc lý là gì...

Là Rê Fa Lá Sí Sí La La Sí Fa Rê Là
Đường xưa lối cũ có bóng tre, bóng tre che thôn nghèo.
Đường xưa lối cũ có ánh trăng, ánh trăng soi đường đi.

Trong suốt những dặm hành của đoạn trường lưu lạc, người nghệ sĩ sáng tạo rong ruổi trời trăng mây nước đâu không biết nhưng rồi sẽ có lúc quay về một góc nhìn quen thuộc, quen thuộc tới nỗi đã có lúc không thấy ra được một nét gì đặc sắc, gợi tình... để phát hứng mà vẽ vời, viết lách hay bắt nhịp tình tang... Một góc phố người ta tới lui đến chán chê... Một xóm quê người ta đi về tới mê mệt. Một bến nước đã qua lại đến phát rầu... Một quê hương mà người đi xa gọi là cố quận.

Vậy đó... Sẽ có một lúc nào đó, bỗng dưng người ta không nhìn trần gian qua cặp mắt trần tục. Sẽ có lúc người ta nhìn lại bằng một tấm lòng. Khoảng thời khắc đó, thường ở giữa chừng một đoạn đường lữ thứ, khi bất ngờ bỗng thấy hụt hẩng, bỗng thấy trơ trọi ngay khi đang ở giữa chốn phồn hoa. Thời khắc đó, người ta làm thơ hoài tình, người ta viết nhạc hoài cảm...
Đường xưa lối cũ có bóng tre, bóng tre che thôn nghèo.
Đường xưa lối cũ có ánh trăng, ánh trăng soi đường đi.

Bài hát đó bắt đầu với hình ảnh bóng tre. Ối mấy cái bụi tre nhìn đâu cũng có. Và sau đó là ánh trăng. Ối ánh trăng như một thứ đèn đêm khi lấp ló khi lồ lộ, đông tây nam bắc gì cũng có, lạ gì đâu mà kể lể. Ngặt nỗi, lần này ông Hoàng gộp hai thứ đó lại cùng nơi cùng lúc nên mới sanh chuyện. Khi tre trăng hợp nhau cùng một chỗ, cùng một lúc bỗng dưng rồi làm xốn xang lòng mấy kẻ xa quê, nhất là thứ quê xa sao mà xa mù xa mịt. Hai hình ảnh quen thuộc với bất cứ một người Việt Nam nào sinh đẻ và lớn lên trên mảnh đất nghèo nàn và giàu tai ương đó. Nó gần gũi và quen thuộc đến độ gần như làm người ta quên bẵng sự hiện diện ngay cả khi lẫn quẫn kề bên. Người Việt Nam ai mà không có lần thấy qua những thân tre gầy guộc, cao vút với những chiếc lá xanh sẩm, thon thả... run lẩy bẩy mỗi lượt có cơn gió thổi qua, tạo ra thứ âm thanh mà người ta gọi là “xào xạc”. Hình ảnh những bụi tre già quắt queo, vặn vẹo uốn mình theo từng cơn gió lớn vẫn thường được biểu hiện cho sức sống tiềm tàng của một dân tộc vốn đã chịu quá nhiều tai ương khi nổi trôi theo suốt dòng bạc mệnh. Vậy mà vì quen mắt quá độ tới nỗi làm như người ta nhìn mà không thấy. Còn ánh trăng. Cái màu trăng huyển hoặc của những đêm rằm rải xuống làng mạc im ngủ hay ngay cả những nẻo đường phố thị hẵn đã không ít lần dục hồn người bỏ quên thực tại mà xuôi về một cõi mộng mơ nào đó. Vậy đó mà vì là của không vốn nên lắm khi người ta xài thẳng tay mà chẳng chút dạ quan tâm. Nhất là cái đám đông lúc nhúc sống ở thành phố, với những ngọn đèn điện...

Vậy đó, rồi có lúc y như thầy tu đốn ngộ. Ờ bụi tre ! Ờ ánh trăng ! Những thực thể gần gũi biết bao nhiêu, quen thuộc biết bao nhiêu ở một nơi mình yêu dấu biết bao nhiêu vậy mà sao có lúc mình quên bẵng. Phải đợi tới lúc giựt mình thấy sao trống trải, nhìn ngó lại cái chỗ bỏ trống trong lòng rồi thấy lại... thấy lại như thấy lại một quê hương. Ông Hoàng Thi Thơ ổng nhắc đó. Cái bóng tre đó, cái bóng trăng đó là hình ảnh của một cố hương đã xa ngoài tầm với. Nhất là từ khi chia cách nhau vì hai thứ ý thức hệ nghịch chiều.

Theo Wikipedia, Hoàng Thi Thơ sinh quán ở Quảng Trị, trải qua một tuổi thiếu niên ở miền Trung rồi vừa tuổi thanh niên, vì thời cuộc, đã phải bỏ quê vô sống ở Sài Gòn cho tới khi sang Mỹ rồi mất ở xứ người. Kể ra không khác gì phần số của hằng triệu người Việt đã bỏ xứ ra đi, từ một ngày sau tháng tư đại nạn... Có khác chăng là ngay từ tuổi thanh niên, với một tâm hồn mẫn cảm, ông đã sống tâm trạng tha hương ngay trên một vùng đô thị trù phú miền Nam khi không còn thấy nơi chôn nhau cắt rún, vốn dĩ là một làng quê heo hút với khoảng cách hơn ngàn cây số.
Từ đó, ông sáng tác bản nhạc ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ để đến giờ này vẫn còn làm rung động đến xót xa những hồn lưu lạc...

Là nhạc sĩ, y như thi sĩ vốn thuộc hạng mơ mộng bậc nhất, vậy mà ông nắm bắt hồn người không thua gì mấy ông tâm lý gia. Vừa mới xúi người ta tìm về nơi chốn có đường xưa và lối cũ, ông đã dắt ngay tới chỗ mà hầu như ai cũng đã qua đó một lần. Quê ta thuở đó, ngoại trừ một ít chỗ nằm ngay trung tâm thành phố, còn lại dạt ra phía ngoại ô chút xíu là đã thấp thoáng mấy bụi tre già dẫu lắm khi xơ xác bụi đường. Còn nói gì tới những thôn ấp xa xôi, thôi thì rặt một màu tre xanh mướt. Mà hơn nữa, chẳng những thân thẳng đứng mà lả lả ngọn, tre còn là vật liệu chánh trong đời sống hằng ngày của người Việt ta, ngay từ hồi xưa hồi xửa... Từ đôi đủa ăn cơm đến tấm phên tre ngăn vách, từ cột kèo đến chiếc chỏng đầu hiên, từ nhịp cầu lắt lẻo nối hai bờ con kinh xáng thổi đến biểu hiện cho niềm tin về một cuộc trùng phùng cho những đời đã quá đổi bể dâu, như trong câu ca dao -chẻ tre bện sáo cho dầy ngăn sông Mỹ Thuận có ngày gặp nhau. Kể hoài chắc cũng không hết. Thôi vậy.

Có điều, là người Việt, chắc không ai là không thấy mình liên hệ ít nhiều với những bụ̣i tre già đến thắc thỏm đó. Cũng như thứ ánh trăng thân thuộc đến nỗi có lần ai đó đã lên tiếng trách cô gái tát-nước-bên-đàng-sao lại múc-ánh-trăng-vàng-mà-đổ-đi. Thứ hình ảnh đẹp rất lặng lẽ đó được ông Hoàng Thi Thơ tế nhị nhắc lại đủ để kéo níu hồn người về nơi cố quận, ngay từ mấy nốt sol fa mở đầu. Tre với trăng. Chắc mẻm như hai với hai là bốn, tre với trăng hợp lại như gỏ vào trái tim người nghe một tiếng chuông gọi dậy, làm bốc lên mớ hình xưa bóng cũ đã trùng lấp dưới mấy lớp bụ̣i thời gian. Ở đó, có cha mẹ già, có gia đình quyến thuộc, có cây da bến nước, có bụi tre lão, có góc phố Tàu với chiếc xe nước mía ngọt ngây, có con đường rợp bóng me mỗi bữa anh-theo-Ngọ-về, có ngôi trường làng xơ xác vẫn đủ sức in vào đầu óc trẻ thơ những vần i tờ cùng những lời giáo huấn rách ròi đến khắc sâu vào tâm khảm...
Từ đó, cũng vẫn cùng những nốt nhạc nhưng có thăng giáng lên xuống chút đỉnh, bài hát chuyển sang phần cốt lõi. Nếu hình ảnh bụi tre, ánh trăng, con sông, tiếng tiêu được dùng để điểm xuyết cho cảnh quê thì những vật thể đó cũng chỉ là mối trung gian để đưa hồn người tới những nối kết vô hình... Vô hình mà chính là hồn tính của vật thể. Con đường xưa đó, ngõ lối cũ đó chỉ là con đường lối ngõ (dấu mốc) để nhắc nhở, để dắt đưa người đi trở về-bằng đôi chân hay bằng nỗi nhớ- tìm gặp lại những thân yêu. Cha mẹ, anh em, bà con chòm xóm...
Đường xưa lối cũ có em tôi tóc xanh bay mơ màng.
Đường chiều dịu nắng bóng em đi áo nâu in đường trăng.
Đường xưa lối cũ có mẹ tôi run run trong hôn hoàng.
Lòng già thương nhớ, nhớ đến tôi lom khom đi tìm con.

Nhạc êm như thủ thỉ mà hình ảnh đẹp và thật đến xao xuyến lòng người. Những lọn tóc bay mơ màng trên đường chiều dịu nắng cũng như màu áo nâu in đường trăng chẳng có gì là sắc sảo. Nhưng chính nét đẹp bình dị đó biểu hiện rõ ràng mối liên hệ ruột rà, giản dị mà keo sơn biết mấy giữa anh trai và em gái. Rồi tới hình ảnh cái dáng đi lom khom của bà mẹ già đi-tìm-con nữa là phải nói xoi thủng cả tâm can. Làm sao không rung động dẫu con tim người đi xa có lỡ làng chai đá. Có thứ tình nào mật ngọt hơn tình thương của người em gái dành cho anh trai của mình. Rồi còn tình thương nào biển rộng hơn tình thương của mẹ dành cho con. Thứ tình thương không đổi được bằng châu báu. Bốn câu nhạc và lời đơn giản mà thấm thía làm người nghe cũng mở lòng ra phơi phới để cùng chờ đón nỗi vui đoàn tụ. Bốn câu nhạc và lời phối ngẫu rất khít khao làm kẻ bàng quang cũng cảm theo được nỗi háo hức trước giờ sum hợp. Người nghe, nghe ra cả nhịp tim rộn ràng, nhịp thở rạo rực của nỗi hân hoan, cùng với nhịp chân thêm phần vội vã khi nghĩ rằng mỗi bước trở về là một bước đưa mình tới gần thêm một bước, thứ hạnh phúc thật nhất so với mọi thứ hạnh phúc giả tưởng mà cuộc đời này hay hứa hẹn.
Nhưng...
Nhưng không!
Về tới nơi mà trước đây đã bỏ ra đi rồi mới biết. Mỗi bước trở về là một bước đi thụt lùi. Bởi vì khoảng cách giữa người đi xa và người ở lại đã từng lúc mỗi xa thêm. Vì người em gái mình thương yêu biết mấy đã rẽ ngoặt ra một hướng đời đổi khác. Và người mẹ, người đàn bà mình thương yêu nhất đời, người đã mang nặng đẻ đau, đã cho mình bú móm tới teo tóp bầu vú sữa, đã ầu ơ đến khuya lơ để dổ cho mình giấc ngủ yên lành... Người mẹ đó đã ra đi bên kia cuộc đời. Mà nhất là không lời cuối cùng trước khi phân kỳ !!!
Thử tưởng đến...
Người mẹ mất mà chưa lần thấy lại mặt con!
Thử tưởng đến...
Đứa con mất mẹ mà chưa lần thấy lại mặt mẹ!
Y như một vở tuồng cải lương với đầy đủ kịch tính mà ai nấy đều biết trước hồi kết cuộc. Vậy mà vẫn ngồi xem cho tới hạ màn để rồi bật khóc theo sáu câu mùi mẫn.
Vâng, bài bản ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ có ý nghĩa cũ mèm như vậy. Nhưng chính thứ nghĩa tình không trọn đó vẫn mới sau mỗi cuộc biến thiên. Cũ người mới ta nên lắm khi nước mắt ngắn nước mắt dài. Mà nước mắt thì có bao giờ ráo cạn.

Thử tưởng lại những cảnh tình y như vậy đã xảy ra cho bao nhiêu kẻ lưu vong từ sau cơn trường hận, tháng 4/75.
Bỗng dưng rồi nghĩ đến phận mình. Trích HƯỜNG NHAN.
“Ngày má đau con không được lo thuốc thang. Ngày má mất con không lạy biệt. Mấn mũ con không đội, áo tang con xếp lại để qua bên, gậy tang con không về chống kịp để vừa đi thụt lùi vừa dang tay cản cho chậm lại phút giây má rời nhà lần chót. Nhưng mà thôi... dẫu níu chậm cách nào thì cũng không cầm lại được. Má đến với đời như một đóa phù dung mà mỗi cánh hoa chỉ là một hơi sương váng vất. Những hơi sương phả ra trên mặt đất buồn hiu này cho đau khổ có một chút long lanh, cho phiền muộn có một chút ngọt ngào và cho giọt lệ sau cùng... rồi ra cũng có chút niềm hạnh phúc.”

Thử tưởng lại. Những não nùng đã có thật trong suốt cuộc tang thương. Người con trai trong bản nhạc không biết đi xa vì lý do gì, chớ còn rất nhiều người trong chúng ta đã bỏ ra đi vì một lý do rất rõ ràng, lý tưởng tự do. Trong nỗi tủi nhục chung bỏ xứ, còn riêng nỗi tủi nhục của kẻ phải bỏ cha bỏ mẹ già đi tìm đường sống cho riêng mình. Thử nghĩ lại ngày đi rồi không có ngày về mà tuổi già thì không biết đợi bao giờ.
Khi tôi về, bồi hồi trong nắng.
Tưởng gặp người em hân hoan đứng đón anh về.
Nào ngờ người em sang ngang khi xuân chưa tàn.
Con đò nào đây đưa em tôi vào xa vắng.

Khi tôi về, nghẹn ngào trong nắng.
Tưởng gặp mẹ tôi rưng rưng đứng đón con về.
Nào ngờ mẹ tôi ra đi bên kia cuộc đời.
Không lời biệt ly cuối cùng trước khi phân kỳ.
                          ...
Tại vậy mà, ai sao không biết, chớ còn với tôi bài hát ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ không có thời gian tính. Giờ này cũng khó mà biết được chính xác đã sáng tác vào giờ phút nào. Nghe nói đâu khoảng năm 1958-59 gì đó. Lúc đất nước mới bị chia hai. Lúc có hàng triệu người miền Bắc phải bỏ xứ chạy lấy thân.
Rồi sau đó, hàng triệu người từ miền Nam lại bỏ xứ chạy bán mạng như một bầy chim vở tổ. Đã có bao nhiêu cuộc sinh ly rồi thành ra tử biệt. Đã có bao nhiêu vành tang trắng quấn hờ trên đầu của những kẻ khóc cha khóc mẹ mà chẳng được lạy biệt lấy một lần. Đã có bao nhiêu nấm mộ không bao giờ lạn trong lòng những kẻ ly hương ngoài ý muốn.
Và sau hết để chấm dứt, ông Hoàng nói lên một sự thật muôn đời. Đường xưa còn đó, nắng vẫn lên, vẫn trăng treo ven đồi. Vâng, cảnh vật còn đó, ngày nắng đêm trăng vẫn y nguyên, núi non sông nước vẫn lặng lờ như đã tự bao giờ. Nhưng một khi tình đã mất thì nắng sớm hay trăng khuya rồi chỉ còn là những hiện tượng tự nhiên, vô tình như trời đất vốn dĩ vô tình. Quê hương dẫu có được gọi bằng những mỹ từ trang trọng như tổ quốc, như giang sơn... nhưng rồi ra chính những hình ảnh bình thường, riêng tư nhất sẽ là vết tích còn lại trong lòng kẻ đi xa. Quê hương chẳng những là niềm tin vào huyền thoại tiên rồng, không những chỉ là lòng tự hào về tinh thần bất khuất của một dân tộc đã trải qua suốt hai ngàn năm đô hộ của người phương Bắc, của chiến công hiển hách khi người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đuổi giặc Thanh trong mấy ngày đầu xuân Kỷ Dậu... Mà hơn hết, quê hương chắc chắn không phải là cuộc cải cách ruộng đất vào những năm 1953-56 ở miền Bắc, không phải là chuyện ép uổng sáng tạo đến tù đày thân xác trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm những năm 1955-58 cũng chỉ riêng ở miền Bắc, càng không phải là những trại tù khổ sai ngụy danh cải tạo, lần này trải rộng ở khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam, sau năm 1975… Quê hương có đẹp trường tồn trong lòng người trót mất quê hương chính là quê hương của sắt son truyền thống, của đá vàng nhân nghĩa, của thủy chung gốc ngọn, của trầm tích ruột rà... Quê hương còn đẹp mãi trong lòng người đi còn là quê hương của nồi bánh tét mẹ thức canh đêm ba mươi tết, của tô canh chua với ơ cá kho tộ, của chén cơm đôi đủa kính trên nhường dưới, của tiếng võng đưa kẽo kẹt đệm hờ cho câu dổ ầu ơ, của bữa cúng giỗ có bầy con cháu sum vầy, của con đường có hai hàng cây sao cao vút ngày hai buổi cặp sách đến trường, của ánh trăng lấp ló trong con mắt thẹn thùng của lần đầu hò hẹn...
Một khi những thứ giá trị vô hình đó mất đi, quê hương dường như cũng biệt mù dẫu chân rồi có dẩm ngay trên... đường xưa lối cũ.

Mà hình bóng cũ thiếu trong tôi mỗi khi nghe chiều rơi.
Câu hát buồn như một tiếng thở dài. Tiếng thở dài... dài không muốn dứt. Chữ rơi cuối bài y như rơi hoài mà không chạm đáy. Ờ mà nỗi buồn mất mẹ, mất em... nỗi buồn mất quê hương có bến bờ đâu mà chạm đáy. Ba cái nốt nhạc cuối rồi như thả lỏng, buông lơi. Ai ngân nga tới đâu thì ngân nga cho thỏa lòng tiếc nuối. Mà có thỏa hay không là chuyện riêng của mỗi người. Người hát cũng như người nghe. Khỏi cần luật lệ.

Như đã nói, dường như ông Hoàng Thi Thơ soạn bài hát từ năm 1958-59 gì đó. Tới giờ này đã tròm trèm sáu mươi lăm năm. Trời, sáu mươi lăm năm dài biết mấy. Ngày ông viết nhạc, ông đâu biết đã phổ nhạc giùm cho triệu triệu nỗi buồn. Và chúng ta, chúng ta cũng đâu biết được rồi có ngày không tìm lại được... quê hương. Mà thôi, biết để làm gì. Biết thêm chỉ để buồn thêm. Nhất là khi sáng tác, ông còn đâu đó trên quê hương, với chút niềm hy vọng. Biết đâu rồi có lúc im tiếng súng, đất nước yên bình, về xây lại mộ người đã khuất, tìm lại người thân dẫu có thất lạc vẫn là thất lạc trên cùng một quê hương. Còn chúng ta, đám lưu lạc tứ phương đã gần nửa thế kỷ vì trốn chạy một chế độ, có còn đâu những đường xưa lối cũ để tìm về. Người mất đã mất, kẻ tự đày biệt xứ đã là một lựa chọn tự thân thì ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ, ới ông HOÀNG THI THƠ ơi, coi như đã bít lối.
Đoạn đành !!!

Bài hát, giờ đây, đối với tôi đã không còn tuổi tác. Một thứ giá trị sống đời dù từ vài mươi năm trước, khi còn đang tuổi mới lớn đã có lần nghe rồi bỏ qua như đã bỏ qua không biết bao nhiêu thứ quanh quanh mình suốt những năm tháng còn ở tại quê nhà. Để tới bây giờ rồi mới hiểu ra thâm thúy mấy chữ đường-xưa-lối- cũ. Hiểu thêm ra rồi cũng chỉ để biết... ngậm ngùi.
Rồi lại sực nhớ thêm, mới nứt mắt đã chảnh chẹ nghe Connie Francis hát Come back to Sorrento dẫu có hiểu ất giáp gì ba cái tiếng Ý nghe lạo xạo như bắp rang. Mà cũng làm bộ ra điều cảm xúc.

Còn bây giờ, đường về quê đã bít tới mấy lượt rào ngăn, có cách nào đâu mà theo HOÀNG THI THƠ tìm về ĐƯỜNG XƯA dẫu ông đã chỉ ra giùm nhiều hơn một lần... LỐI CŨ! Bởi vậy làm sao mà không buồn đến đứt ruột cho đành...

Thôi vậy, còn chút chữ xin kính gởi theo ông -người nhạc sĩ tài hoa. Một thuở.

Cao Vị Khanh


Thứ Tư, 10 tháng 7, 2024

Chuyện Chiếc Cầu Trên Sông Mỹ Thuận


Đã lâu lắm tôi không về lại Việt Nam. Nói vậy không có nghĩa là tôi không nhớ quê hay nhớ ít hơn những người đi đi về về từ mấy năm nay. Không, tôi nhớ quê tôi lắm chớ. Tôi nhớ đâu ngay từ khi mới vừa đặt chân xuống ghe trong đêm vượt biên. Nỗi nhớ như những lọn máu nhỏ từ đời kiếp nào vẫn chảy rì rầm trong trái tim héo mỏi. Tôi có quên đâu. Thấp thoáng giữa đám lau lách của trí nhớ bội bạc, quê hương vẫn còn đó, lẻ loi như một bông cúc vàng nở muộn, đẹp đến xót xa. Tôi nhớ quê như một người tình bị phụ rẫy nhớ lời đay nghiến. Dù là một lời đay nghiến. Vậy mà tôi không về. Hay chưa về lại đó một lần. Nghe thì rắc rối như bày đặt. Nhưng mà cuộc đời cũng có suôn sẻ gì đâu.

Những năm mười tám, đôi mươi từ tỉnh nhỏ lên Sài Gòn trọ học, cách quê đâu chừng trên trăm cây số là tôi đã bắt đầu thấy nhớ. Lạ vậy đó. Vẫn có những chiều đang lang thang giữa phố, lòng bỗng nhiên chùng xuống khi chợt thấy chân mình lỡ đạp trùng lên mấy lọn nắng cũ vàng hoe. Hay những sớm thức dậy bỗng thấy buồn ngang vì một tiếng xe thổ mộ lăn lóc cóc đều đều như gõ nhịp vào thiên cổ. Có một cái gì trùng lẫn ở đâu đây. Như đã gặp rồi đâu đó, quen quen. Như đã nghe rồi đâu đó, mài mại. Ly hương, người đi xa tưởng là bỏ hình lại ở chốn cũ mà quên rằng bóng cứ lúc thúc theo sau. Nó cặp kè, léo lách, lẩn lút loanh quanh. Cứ như vậy mà giằng co níu kéo. Hết nhớ rồi quên. Hết quên rồi lại nhớ. Riết rồi tôi cứ thả mặc cho dòng đời xốc nổi, bởi gốc vốn từ đất ruộng bốc bụi bay đi thì làm sao chẳng có lúc tấp lại bên đường mà không nhớ xó đất quê!

Vậy đó, suốt mấy năm lang bạt ở Sài Gòn, dẫu người ở phố thị mà lòng vẫn đặc sệt nhà quê. Hở ra là nhớ. Nhớ từ cọng cỏ ướt sương nhớ đi. Nhớ từ bụi lúa trổ đòng đòng nhớ lại. Người tình đầu đời sao tôi quên cái một. Mà khoảnh đất quê nhà sao tôi nhớ hoài. Có lúc tôi thấy thèm về ngồi lại trên bực đá lở bên bờ sông Cái, một buổi trưa hè, lượm đá thảy lia thia trên mặt sóng mà đầu thì thả lông bông như một người vô tích sự. Có lúc tôi muốn được quay lại bãi cỏ xanh cạnh ngôi đền văn miếu cũ, chắp hai tay sau gáy nằm dài ra đó ngó lơ mơ ngủ dật dờ mặc cho cuộc đời xoay trở chung quanh. Cả cái tỉnh nhỏ mà gần như ai nấy đều biết mặt nhau, ở thì rầu muốn chết mà đi xa thì nhớ đến đứt ruột. Nhớ đủ thứ. Kể cả những thứ không đáng nhớ. Nói gì đến thứ không thể nào quên.

Như cái bến phà Mỹ Thuận vậy đó, tôi đã đi qua lần đầu đâu thuở chín mười tuổi rồi cứ nhớ hoài mặc dầu sau này, lớn lên đã qua không biết bao nhiêu là bến đợi khác. Có một cái gì lạ lắm như nối kết tôi, thằng con trai sinh ra và lớn lên ở bên này sông cứ nhìn ngó bên kia sông như chót đỉnh của một giấc mơ phiêu lãng. Có phải con sông lớn mênh mông đó như một ranh giới vô tình đã chẳng giữ những cơn mơ tuổi nhỏ. Hay chính những lượn sóng cuồn cuộn đó đã một thời đẩy đưa hồn tôi phiêu lưu đến những chân trời xa tít. Bằng lý do nào, thì đó vẫn là nơi ưa thích nhất và cũng là nơi tôi nhớ nhiều nhất. Nhất là từ lúc biết mình khó có dịp qua lại nữa.

Những năm mới bỏ xứ ra đi, năm ba hôm là lại chiêm bao thấy về quê cũ. Mà lần nào cũng vậy, cũng thấy mình trễ nải, về tới bến rồi mà cứ hụt hoài chuyến phà chót qua sông… Thẫn thờ đứng lại đó, nhìn ngó bâng quơ rồi thấy lại y nguyên cái cõi thân quen, y nguyên như khi đời còn thơm thảo. Từng mặt người, lối tắt, đường quanh…

Nghĩ lại cũng lạ. Lội sông lội suối đã đời rồi mà rốt lại chỉ nhớ có khúc sông trắc trở đó thôi. Dĩ nhiên điều đó chắc không ăn nhằm gì với cái vị trí quan trọng của nó trong việc thông thương ở miền tây. Quốc lộ số 4 từ Sài Gòn xuôi nam đến đó là phải khựng lại. Sông rộng mênh mông, tách nguồn từ Tiền Giang ở phía bắc chảy nghiêng nghiêng theo hướng tây nam đến đó phát đổ ròng ròng đến sạt bờ lở bãi. Thuở ấy, tiền bạc và kỹ thuật chắc còn non yếu quá, người ta chưa đủ sức bắc cầu. Xe đò, xe hàng tới đó là phải đậu lại, sắp hàng dài thậm thượt đợi lượt xuống phà qua sông. Gặp lúc có công-voa nhà binh chiếm ưu tiên là thôi chờ đợi dài người ra. Xe cộ phì phò hục hặc, khách khứa nhốn nháo, mấy chú lơ xe hấp ta hấp tấp xách thùng xuống sông múc nước đổ cho nguội máy, mấy bà mấy cô cũng vội vội vàng vàng chạy tìm mấy chỗ giải thủy cho nhẹ mình, khi thì bờ ruộng lúc lại mấy lùm cây khuất khuất hở hở. Cái hoạt cảnh ồn ào náo nhiệt không có chỗ nào giống được. Lạ lắm. Làm như đó là một nơi người ta rất mong cho mau tới, mà tới rồi lại cứ mong cho mau đi.

Nói vậy mà lỡ có kẹt lại lâu lâu thì cũng chẳng lấy gì làm phiền hà cho lắm. Xe tắt máy, khách bước xuống bãi đậu, vung vai vặn mình vài cái cho giãn gân cốt rồi là miệng chắt lưỡi, hoặc lầm thầm rủa xả vài tiếng trong khi chân thì xắn xả nhắm hướng mấy cái quán nước hai bên đường. Mấy chốc, đời vui trở lại. Giữa đồng không rồi bỗng thành ra một buổi chợ đông. Hai bên lộ, người ta che bạt, dựng chòi lợp lá, khá hơn chút gá vài ba tấm tôn, khá hơn chút nữa tụ lại thành một dãy tiệm có cửa nẻo hẳn hòi. Mà điều lều trại hay phố xá cũng đều xập xệ như chỉ để che mưa đụt nắng qua ngày. Ờ mà đúng vậy, có ai mà nghĩ được ghé qua đây rồi ở lại luôn đây. Cái chỗ giữa đường giữa xá!

Hàng hóa thì chưng dọn luông tuồng đến luộm thuộm, đồ khô trộn lộn với đồ tươi, bánh mứt xen kẽ với túi xách giỏ đệm, đồ ăn thức uống tràn ra tới lề đường vậy mà len qua lách lại sao thấy ngồ ngộ y như những cái ngoắc tay khều vai bá cổ. Bởi vậy người qua lại rồi thấy vui tai lạ mắt. Rồi ai nấy cũng thành ra dễ tánh. Vậy đó đời vui biết mấy. Cái chỗ không phân biệt giàu nghèo sang hèn, ai đến rồi cũng phải lội bộ ngang qua. Đã không tránh được thì sao không hả lòng ra mà hưởng. Mà hơn nữa, thực phẩm trần gian thì bày ra ê hề mời đón. Người đi xa lỡ độ đường chưa đói vẫn nghe ruột dạ cồn cào. Cơm nước trái cây bốn mùa, mùa nào thức nấy. Cứ nhìn mấy giỏ mận hồng đào chín mọng là bắt khát nước, mấy giỏ ổi xá-lỵ căng da xanh mướt mà phát thèm. Những xâu mía ghim tươm nước ngọt như đọng sương mai, những trái khóm Bến Lức xẻ năm xẻ bảy rịn mật vàng lườm, những chùm nem Nha Mân treo xum xoe ngả ngớn… Điệu đời hơn nữa, những xâu chim trao trảo quay vàng ngậy, chảy mỡ bóng lưỡng chấp chới trong lồng kiếng, quyến rũ còn hơn cao lâu Chợ Lớn. Kế bên, mấy miếng thịt sườn nướng than tại chỗ bốc mùi thơm thấu tới thiên đình. Kề đó, mấy chai bia con cọp sắp hàng dọc ngang như nghinh nghinh thách đố ai mà chịu nổi. Bởi vậy mà khách giang hồ qua đó thế nào rồi cũng phải có lần ngả bàn nhậu dọc đường. Mà bởi vậy khách đa tình qua đó cũng không thiếu người vướng lại những cuộc tình tứ chiếng. Bà lớn bà nhỏ em gái em nuôi gì không biết chớ chuyện ghen bóng ghen gió vẫn xảy ra hà rằm làm cho cái bến đỗ vốn đã ồn ào lại được thêm phần…ầm ĩ.

Nhưng mà tại sao là Mỹ Thuận mà không là một cái bến khác. Dọc theo miền tây còn bao nhiêu là bến phà. Vàm Cống, Cần Thơ, Rạch Miễu, Chợ Gạo, Cổ Chiên … sao không nhớ. Mà chỉ nhớ rặt có Mỹ Thuận? Hay tại tôi cũng nòi tình như ông cò quận chín trong tuồng cải lương Tuyệt tình ca có bà vợ nhỏ ở Vĩnh Long đã chèo xuồng đưa chồng qua sông Mỹ Thuận, về Mỹ Tho thăm vợ lớn rồi biệt tăm biệt tích luôn mấy chục năm trời. Không, tôi biết cái bến phà đó từ lúc còn rất nhỏ, chưa tới tuổi có một vợ chớ đừng nói tới vợ hai. Kỷ niệm của tôi với cái bến phà đó không dính líu gì hết tới mấy cái chuyện tình duyên tấm mẳn. Nó chỉ dính líu tới cái tuổi nhỏ mà mộng lớn của tôi thôi.

Vốn là quê tôi cách bến phà Mỹ Thuận đâu chừng chín mười cây số gì đó. Con đường nối liền bến nước với tỉnh lỵ chạy qua những thửa ruộng nho nhỏ cắt chia bằng mấy bờ đê lúp xúp, ngang qua vài xóm nhà lá lụp xụp và một hai chiếc cầu xi-măng làm điệu bắt cong cong. Con đường hiền lành thơ mộng một cách quê mùa, cũng chẳng có gì là đặc sắc. Chỉ có điều con đường đó là cái ngõ thoát êm đềm nhất để chạy trốn nhịp sống trì trì nhàm chán của tỉnh nhỏ buồn hiu. Con đường là cái gạch nối ngắn nhất đưa đứa con trai mới lớn từ thực tế vây khốn đến mộng mị phiêu lãng qua trung gian là cái bến phà rộn rịp đầy khách lữ hành xuôi ngược. Lần đầu tiên qua đó một lần năm chín tuổi là bắt mê ngay cái không khí chộn rộn, tất tả, lăng xăng của kẻ đến người đi, của người qua kẻ lại làm như ai nấy đều vội vã lắm. Người ta sốt ruột trông cho mau đến, đến rồi sốt ruột trông cho mau đi, đi hấp ta hấp tấp như chỉ sợ trễ một chuyến qua sông là sẽ trễ luôn cả một cuộc đời. Làm như cuộc sống không chịu ngừng lại một chút, cứ phải là những chuyến lên đường.

Ờ, những chuyến lên đường! Hình ảnh những khách bộ hành lật đật xuống xe, tay xách nách mang kéo nhau đi như chạy qua phà là cái biểu lộ tuyệt diệu nhất cho sức hút của dặm trường thiên lý, của kiểu đời gạo chợ nước sông đã làm tôi mê mẩn suốt một thời mới lớn.

Hình dung trở lại đứa trẻ sinh ra ở một tỉnh nhỏ lần đầu tiên được cha mẹ dẫn cho đi Sài Gòn. Chuyến xe tài nhứt khởi hành đâu khoảng bốn giờ sáng. Trời gần tết đẫm sương. Lòng xe tối mò. Hơi khói xăng xông lên mũi kích thích. Đứa bé cố nhướng mắt thật to để nhìn cho hết con đường mơ trước mặt. Mà có được đâu. Cái ngủ đậu chực hờ trên mí mắt. Tiếng xe chạy ù ù càng ru thêm đến chín muồi. Nó chịu thua. Nhưng mà mới ngủ gà ngủ gật đâu được một chút đã giựt mình nghe tiếng anh lơ la oang oang. Bà con cô bác xuống xe qua đò. Có ăn gì thì xả rác trong xe bà con ơi…Đứa bé giựt mình mở choàng mắt dậy. Ôi thôi đâu mà đèn đuốc sáng trưng. Người qua lại rộn rịp, kêu réo thúc hối kèn cựa tự nhiên như giữa chỗ không người. Đứa bé ngơ ngác tưởng trong chiêm bao. Bỡ ngỡ, chớp chớp con mắt mấy cái là tỉnh như sáo sậu. Nó khoái chí dòm cái hoạt cảnh mới thấy lần đầu. À thì ra người ta có ngủ như nó đâu. Người ta đi đi lại lại, chạy tới chạy lui, cười giỡn nạnh hẹ nhau suốt đêm suốt ngày. Cái cõi người lớn này lạ thiệt. Đêm hào hứng như vậy cách chỗ nó ở có bao xa, bằng đâu một chớp mắt thôi. Vậy mà ở nhà mới chạng vạng ba má đã bắt nó phải lên giường ngủ một mạch cho tới sáng trưng. Như vậy ở ngoài căn nhà nó ở, ngoài con đường tráng nhựa nó đi tới trường hàng ngày, ngoài ngôi chợ lớn cạnh bờ sông thỉnh thoảng có mấy gánh sơn đông về múa võ bán cao-đơn-hườn-tán, ngoài cái rạp xi-nê chiếu phim cao bồi bắn lộn với mọi da đỏ… còn có cả một thế giới lạ lùng, vui tươi, rộn rịp, chờn vờn một sức sống mãnh liệt, bừng bừng ngay kề bên cái phố nhỏ buồn hiu của nó. Đúng là cả một khám phá kỳ diệu. Xe chạy chậm lại rồi rà rà tìm chỗ đậu. Mọi người lục tục xuống xe. Thằng bé nắm chặt tay mẹ đi những bước như nhảy. Nó cố làm ra vẻ người lớn như để được hòa hết mình vào cái thế giới sôi sùng sục quanh nó. Nó nở mũi hít thật dài một hơi không khí mát lạnh từ ngoài sông thổi tới, thấy như hít luôn cả cái chộn rộn của đoàn người đang vội vã đi bên cạnh, luôn cả cái mùi kỳ lạ pha trộn đủ thứ thập vật trần gian: hơi người, hơi gà vịt treo buộc tòn teng dưới cặp đòn gánh của mấy bà bạn hàng, hơi trái cây vừa mới hái đổ đống trên sạp, hơi nước lèo của mấy xe hủ tiếu thơm phức, hơi xăng nhớt nồng nồng, cả hơi tinh sương của một ngày đang trỗi dậy. Trong khi đó đoàn xe chạy chậm chậm cẩn thận từng chiếc một xuống phà theo sự chỉ dẫn của ông “xếp bắc”, miệng ngậm tu-huýt mặt câng câng như tự thấy mình quá sức quan trọng. Mỗi chiếc xe bò lên cầu từ tốn, vừa chạy vừa run run chắc vì lòng cầu nhỏ quá chỉ vừa lọt chí mí. Kề bên một anh lơ chạy lúp xúp tay cầm cục gỗ chặn như để sẵn sàng can thiệp khi xe lỡ trớn. Chiếc cầu sắt lót ván kêu rần rần dưới vòng bánh xe nặng trịch. Xe chạy tới đầu “bông-tông” thì ngừng lại, khục khà khục khặc như vừa thấy nguy hiểm chờn vờn trước mặt. Mà nguy hiểm thật. Ở giữa “bông-tông” là một cái cầu quay hình chữ thập, bề ngang đâu cũng chỉ vừa lọt hai bánh xe, cái nhánh thẳng nối với đường cầu đâu chỉ dài hơn chiều dài chiếc xe đò một chút mà lại đâm thẳng ra dòng sông đang chảy cuồn cuộn. Ngó mà thấy rùng mình. Hèn chi ngay đầu cầu lúc nãy thấy có một tấm bảng đỏ ghi mấy hàng chữ trắng: ”Coi chừng thử thắng xe qua phà”. Điệu này không khéo xe chạy tuốt xuống sông như chơi. À thì ra tại vậy người ta bắt bộ hành xuống xe đi bộ, bỏ mặc chiếc xe với ông tài xế thử thời vận. Mà chắc cũng quen rồi vì ông tài xế coi bộ bình tĩnh lắm, miệng ngậm trệch điếu thuốc lá, từ từ rà thắng cho xe rề rề chạy xuống tới mút bửng cầu thì ngừng lại đúng lúc ông kiểm soát khoác hai tay ra dấu ngừng. Tất cả ăn khớp đúng phốc như dứt hết sáu câu mà rơi ngay đúng nhịp song lang. Tức tốc, anh lơ xe chêm ngay hai khúc cây chặn cứng hai bánh xe hết đường nhúc nhích. Rồi đợi đâu sẵn, bốn người phu đứng ngay bốn đầu cầu quay, người kéo người đẩy vận sức xoay bàn cầu quay một phần tư vòng tròn cho đầu mũi xe hướng ngay mũi phà đã hạ bửng đợi sẵn. Chiếc xe rú một hơi dài rồi chồm lên chạy xuống phà. Vậy là xong một chiếc xe. Phà nhỏ chở được có bốn năm xe là đầy một chuyến. Ông tài công ngồi tuốt trên phòng lái ra lệnh dở bửng. Ai đó đánh một tiếng kẻng. Vậy là coi như nội ngoại bất xuất, trên dưới không được lên xuống nữa, hành khách và xe cộ không được chộn rộn chàng ràng nữa. Phà dỡ đõi rồi từ từ lùi ra bến. Trời hưng hửng sáng. Gió bốc theo khói sóng thổi phần phật mấy tấm bạt che hàng trên mui xe. Nước bắn tung toé hai bên thành phà làm ướt nhem mấy dãy băng dành cho hành khách. Mặt trời hà tiện chút ánh sáng vàng cam không soi nổi con sông lớn quẫy sóng đen ngòm. Phà chạy chậm như thong thả lắm hay là tại không có sức nhanh hơn. Máy nổ rì rì đến sốt ruột. Ngồi trên mấy cái băng gỗ có lúc người ta tưởng chừng như đang đứng yên một chỗ nếu không có mấy dề lục bình trôi phăng phăng ngược chiều. Gặp mùa lũ chướng xem chừng phà còn nhàn nhã hơn nữa. Phà qua ngang không nổi, phải thả trôi theo con nước xuống tuốt đuôi cồn rồi mới ì ạch vòng lên phía bờ bên kia. Như vậy mà chắc ăn nếu không phà tròng trành có thể lật ngang như chơi. Vậy mà thằng bé vẫn khoái như thường. Dễ chừng nó còn mong cho lâu tới nữa. Đâu phải lúc nào cũng được đi trên sông một cách nghênh ngang như vậy, ngó mấy chiếc tam bản chèo chống lê thê bị sóng tàu nhồi đờ đẫn mà tội nghiệp. Nó ngửa mặt hứng mấy giọt nước bay trong gió, tóc dựng đứng như bờm ngựa, lòng mơn man một nỗi vui kỳ lạ. Cùng lúc trời lộ hết bình minh. Con sông hiện rõ dần, lớn lao, chói lọi, bất trắc và mê hoặc như một huyền nhiệm. Đứa bé thấy con sông và bến nước lần đầu tiên mà sao có cảm tưởng như sẽ thấy đến hết đời. Tấm lòng nhỏ xíu của nó như đã dành một chỗ rất lớn cho khoảnh sông nước đó. Nó chăm bẵm cái hình ảnh của thiên nhiên cựa mình sống dậy như một khám phá bất ngờ. Và lớn lên một cách đột ngột, từ đó.

Như vậy mà tôi qua phà Mỹ Thuận lần thứ nhất. Tôi trở ngược lại qua phà lần thứ hai ít ngày sau gì đó. Cũng y như lần đầu. Chỉ khác là vào buổi chiều, trời sắp tắt nắng. Bóng đêm chực chờ càng làm con sông, chiếc phà và người ta thêm gấp gáp. Cũng cái vội vã thêm một chút lo lắng. Cũng cái ồn ào nhưng bớt đi một chút náo nhiệt. Nhưng không có vẻ gì là sắp ngừng nghỉ. Sông nước có thôi chảy đâu. Và người ta cũng đâu có hết lên đường. Ở đó là hình ảnh một dòng sống không có khởi đầu và cũng không có kết thúc.

Có phải tại vậy mà tôi mê cái bến Mỹ Thuận hay không? Tôi đã giữ trong tôi cái hình ảnh qua lại bất tận trên dòng sông bất tuyệt này rất lâu. Mãi đến khi lên trung học, tôi vẫn thường trốn nhà những ngày nghỉ học đạp cái xe đạp cà tàng chín cây số lên đó, đứng ngó ngu ngơ một đỗi rồi đạp xe trở về. Mệt đừ mà lòng lại thấy vui sướng như vừa làm một chuyến đi xa, hồn mê mải với cuộc mộng du giữa ban ngày ban mặt. Không biết có phải tại tôi chịu ảnh hưởng của đứa bé mê nhà ga và xe lửa trong thơ Tế Hanh hay không mà tôi cứ hay làm như nó. “Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt. Lòng buồn đau xót nỗi chia xa”. Cái hình ảnh đẹp và buồn đến dại người nên tôi mê cái bến phà Mỹ Thuận đến dại dột. Bạn bè trai gái, thân sơ bất kể, ai tôi cũng mời cũng rủ rê cho được. Ở đó tôi huyên thuyên dẫn giải hoặc trầm ngâm tâm sự làm như chỗ đó là giang sơn riêng của tôi vậy. Có người cũng kiên nhẫn ngồi nghe nhưng đa số thì dẫy nẫy đòi về. Nhưng mặc. Rốt lại chỉ còn tôi với cái bến nước của riêng tôi. Nơi vừa có gió sông lồng lộng, có phà trôi rập rình, có đủ thứ quà cáp trần gian và nhất là có những vóc dáng giang hồ qua qua lại lại.

Bến nước là nơi tao ngộ của những tay tứ chiếng, là ngã tư gặp gỡ của trăm họ miền Tây. Cà mau, Rạch Giá, Long Xuyên, Châu Đốc, Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh… Họ băng ngang thì thôi chớ còn xổ dọc là gặp nhau ở đó. Không hẹn mà gặp. Gặp không chào không hỏi. Gặp một lần trong một đời. Rồi thôi. Rồi mất biệt như chưa từng đã gặp. Dĩ nhiên chắc họ cũng có trở đi trở lại nhưng rồi có ai gặp lại ai đâu. Tôi đã thấy ở đó bao nhiêu là mặt người, bao nhiêu là nhân dáng mà rồi có gặp lại ai bao giờ. Phải vậy không, ở đó giống y như cái cõi đời này mà một ông Tàu xưa đã cảm thán đến rơi nước mắt: “tiền bất kiến cổ nhân, hậu bất kiến lai giã, niệm thiên địa chi du du, độc thương nhiên nhi lệ hạ”. Đó là một quán trạm bên đường mà mọi người phải ghé qua trong cuộc hành thiên lý dù có muốn hay không. Ghé qua một chút, vui vẻ hay buồn rầu, nhẹ nhàng hay gồng gánh thì cũng phải ghé qua, đi tới đi lui, dòm ngó loanh quanh rồi quay lưng đi mất biệt. Đó chẳng giống cái đường trần thăm thẳm này sao mà khách lữ chính là chúng ta đó. Chúng ta đến rồi đi có ai biết, dòng đời vẫn chảy đến biệt mù cũng chẳng làm sao hay. Thuở ấy tôi đã triết lý vụn như vậy với bạn bè mà không ai chịu nghe. Thì thôi ai có phần nấy.

Vậy mà hay, bởi vì ở đó tôi đã học được bao nhiêu điều của trường đời mà trường học thì không thấy đâu có dạy. Bãi trường năm 67, tôi từ Sài-gòn về quê nghỉ hè, cô bạn con nhà giàu được cha mẹ lo cho đi du học ở Pháp, ngày đi quá bất ngờ cô ta đáp xe đò về tìm tôi từ giã. Không biết lúc ấy lòng buồn đến đâu mà sau khi đưa cô ta qua sông trở lại Sài-gòn, một mình đón phà ngược trở lại, bỗng nhiên tôi khải ngộ được một điều thắc mắc từ thuở mới mê thơ. Đưa người ta không đưa qua sông. Sao có tiếng sóng ở trong lòng. Trời ơi lần ấy tôi mới thấy hết cái tài hoa của người thi sĩ mệnh bạc. Đưa người, ông không đưa qua sông mà nghe sóng vỗ ở trong lòng. Còn tôi đưa người, tôi lại đưa ngang sông thì sóng vỗ biết cơ man nào mà kể. Con tim dù lớn cách mấy cũng chỉ bằng nắm tay thì chỉ có nước chết đuối thôi. Lần đó tôi tôn ông Thâm Tâm làm sư phụ. Mấy thằng bạn cùng tuổi, tối ngày chúi mũi vào sách vở làm sao hiểu thấu được cái lớn lao u trầm của người thơ. Đời mộng và thực như vậy đó bàng bạc trên từng ngọn sóng, từng khúc quành, từng vết xe lăn, từng chuyến phà ngang trắc trở. Sao không tới đó mà coi, không tới đó mà nghe tiếng đời kêu réo.

Phải rồi còn cái tiếng đời huyễn hoặc này nữa, tiếng độc huyền của ông ăn mày mù ngồi trước hàng ba một tiệm nước. Ông ta ngồi đó tự lúc nào tôi không biết. Chỉ biết khi tôi bắt đầu qua lại thường xuyên thì ông ta đã có ở đó rồi. Ông ta ngồi đó lặng lẽ, nhỏ nhoi, có mà như không có, giống như cây cột đèn bữa cháy bữa không. Sự có mặt của ông có làm bận tâm ai đâu họa chăng là mấy thầy phú-lít. Nhưng mà ông ta mờ nhạt quá nên riết rồi người ta cũng lờ đi coi như một tấm phông cảnh cũ mèm bỏ quên trong một góc hậu trường sau khi gánh hát dọn đi. Ông ta ngồi yên như một khúc gỗ đẽo sần sùi, lưng cong vòng, mặt nghiêng nghiêng, đôi mắt sâu hoắm, hai chân xếp lại, gần như không nhúc nhích. Chỉ có tiếng đàn của ông là bay lượn thảm sầu. Cái giọng ỉ ôi như kêu rêu, như trách cứ mà cam phận, nghe nghèn nghẹn đến tức tưởi. Nó gần như gom hết tất cả cái gì oan nghiệt nhất, cái gì đoạn trường nhất, cái gì tang thương nhất của cuộc đời này lại rồi phát ra một lượt làm chết điếng lòng người. Đàn chỉ có một dây thôi mà đủ hết mùi trường hận. Tôi khám phá ra ông một bữa về ngang trời đổ mưa bất chợt. Mọi người chạy túa vào mấy cái mái hiên tìm chỗ đụt. Vừa tấp vào một quán nước tôi để ý tới người đàn ông mù tức khắc. Có một vẻ gì lạ lắm toát ra trên gương mặt vô tri như trét sáp. Ông ta ngồi đó, lặng lờ như một vệt khói, mặc cơn mưa rào rơi lộp độp, mặc đám phàm nhân lao xao. Ông làm như không hay biết gì hết, ông chỉ biết tiếng đàn của ông thôi. Mấy ngón tay xương xẩu, đen đúa thoăn thoắt bắt nắm sợi dây đàn độc nhất, còn bàn tay trái vặn vẹo cái cần gỗ đã lên nước bóng ngời. Tôi không biết ông đàn bản gì chỉ nghe được cái não nuột của âm thanh như từng mũi kim chích thẳng vào da thịt mình đến nhức buốt. Tiếng đàn thoát đi bay lượn lẹo trong không khí ẩm đục nghe như tiếng khóc từ cõi âm vọng lại, kêu réo, van nài làm tôi rùng mình muốn phát lạnh. Nó bay ra xa, uốn éo rồi vòng lại, oằn oại. Nó vút lên cao, lanh lảnh rồi chùi xuống thấp, rụng rời. Người ăn mày mù vẫn say mê đàn như không biết cái tiếng đàn ma quái đang truyền nhiễm về đời bóng tối của u minh, dẫn đường cho những hồn oan kéo nhau về lướt thướt. Một lúc mưa bỗng tạnh. Mọi người lục tục bỏ đi. Có bà nhón vài đồng bạc cắc bỏ nhẹ vào cái hộp thiếc đặt trên góc chiếu. Còn đa số thì chắc quá vội đi mà không kể gì đến tiếng đàn bỏ lại. Còn tôi sao tôi bỗng nhiên thấy đi không nỡ. Sao tôi có cảm giác như thiên hạ quá vô lễ với nghệ nhân. Người ăn xin mù đó đúng là một nghệ nhân. Con người đó, tiếng đàn đó sao tôi thấy tài hoa đến tột vời. Mù đã là một thiệt thòi. Mù mà tài hoa thì đúng là tội nghiệt. Có phải ông mù đã gởi tâm sự mình trong tiếng đàn tận tuyệt đó không? Tôi quay vào quán, gọi một ly cà-phê bảo người hầu bàn đem ra cho người ăn xin rồi đến ngồi trong một góc nhìn ra. Suốt buổi chiều, tôi ngồi nghe lóm hết khúc này đến khúc khác, lòng cứ thắc thỏm từng hồi theo mấy cung bạc mệnh. Mà thật ra tôi có biết bài bản nào đâu. Thuở đó đối với tôi, những kim tiền bản, khốc hoàng thiên hay gì gì nữa cũng là quê mùa hết. Tôi chỉ khoái rum-ba với lại xì-lô. Đã nói tôi còn dại dột lắm mà. Vậy mà buổi chiều đó tôi ngồi im như chết trong góc quán, hồn mỏi mê như bị ma ám, lần đầu tiên khám phá ra cây độc huyền quái đản. Tại sao có loại đàn kỳ dị như vậy. Và tuyệt diệu như vậy. Còn người mù đó nữa, có phải chính cặp mắt đục lờ đó mới nhìn thấu được tới vô thanh để biến ngũ cung thành trăm bài kinh khổ? Đã có lúc tôi tưởng chừng ông ta biến đi đâu mất tiêu mà chỉ còn tiếng đàn ở đó thay ông kêu khóc. Hay có thể nói ông ta và đàn như nhập làm một. Làm sao có sự hóa thân kỳ diệu đó nếu không là một bậc dị nhân. Có lúc thần trí tôi mê hoang tưởng như Sư Khoáng đội mồ trở về vác đàn đi tìm bạn tri âm… Rồi tiếng đàn dứt. Tôi giựt mình thấy mình ngồi ủ rũ. Trời ngoài kia đã chạng vạng, bến phà cũng thưa bớt người qua.

Bữa đó khi ra về tôi đã dốc hết tiền còn lại trong túi cho ông ta rồi nhảy lên đeo xe hàng quá giang về chợ.

Đấy cái bến Mỹ Thuận nó hỗn mang như vậy đó, nó tập trung tất cả mọi hạng người từ cùng căn mạt kiếp tới những tay đâm thuê chém mướn, coi trời bằng vung, trước ngực thì xăm “hận kẻ bạc tình” sau lưng thì xăm “thù người hại bạn”, đến người cuồng sĩ tối ngày cứ đón phà từ bờ này qua bờ kia như để đón đợi một người nào đó chưa bao giờ gặp mặt mà hễ mở miệng ra là cứ “liên hoành” với “hợp tung”. Tôi đã thấy có ông tự chặt ngón tay thề thôi cờ bạc, có ông cầm dao đòi rạch bụng khi người yêu đòi “tách bến sang ngang”, có ông dẫn cô nhân tình bụng mang dạ chửa đâu từ dưới quê lên tới đó rồi… quất ngựa truy phong bỏ cô ngồi khóc bù lu bù loa bên bờ sông định mạng. Tôi đã thấy những anh lơ xe mở miệng ra là chửi thề thí mạng mà giữ chữ tín còn hơn cả đám anh hùng Lương Sơn Bạc, những em bé bán hàng rong nhỏ như ngón tay út tối ngày chạy theo mấy chuyến xe đò ép nài từng xâu mía ghim để nuôi bà mẹ tật nguyền. Mấy ông già ngồi bán báo mà thông hiểu trời đất không sót một mảy may, bình chuyện đời xưa không thua gì Mao Tôn Cương hay Kim Thánh Thán. Thôi thì đủ thứ cảnh đời mà có học đến già người trong trường lớp cũng không làm sao biết được. Bởi vậy tôi yêu mến Mỹ Thuận như một người tình chung thủy, như một người thầy lão luyện đã dạy tôi bao nhiêu ngón khôn khéo mà cũng không biết bao nhiêu món đoạn trường. Có lúc tôi tự thấy mình giàu có như một tay hào trưởng.

Bởi vậy bỏ đi xa rồi mới thấy mất mát biết bao nhiêu.

Ở đây xa quá lắm lúc nhớ quê, tôi hay làm thơ kể lể. Có khi nhắc tô canh chua tôm nấu với bông sua đũa, nhắc tộ cá lòng tong kho khô rắc chút tiêu thơm, có khi nhớ dĩa cơm sườn ram mặn, nhắc tô hủ tiếu của chú Thoòng có cái bụng to bằng thùng nước lèo, có khi thèm nghe lại một điệu vọng cổ mà hồi trước cứ chê lên chê xuống. Trời ơi bây giờ mà cho tôi chui vào rạp Miếu Quốc Công đeo tòn teng mấy chiếc cột chỗ hạng cá kèo mà coi tuồng cải lương Nửa Đời Hương Phấn chắc là tôi sướng lắm. Nhưng mà sướng hơn nữa nếu được về đứng lại dòm ngó ngu ngơ hai bên bờ sông Mỹ Thuận như ở tuổi mới vào đời.

Vậy đó tôi vẫn nhớ quê như mọi người nhớ quê của họ. Tôi còn nhớ thêm cái bến nước ơn nghĩa của tôi nữa. Nơi mà không ai chịu nhớ tới chỉ bởi cái tội nằm ở giữa một chặng đường. Người ta chỉ nhớ nơi đi và nơi đến. Đâu ai bỏ công đi thương nhớ một trạm dừng. Rồi bây giờ nghe đâu người ta đã bỏ luôn cái bến phà đó nữa. Người ta đã cất cầu treo ở trên dòng sông lớn. Những chuyến phà chắc đã kéo vào ụ hay rã ra đem bán sắt vụn. Hàng quán hai bên bờ chắc cũng phải đóng cửa. Mấy người chủ quán chắc đã đổi nghề khác làm ăn. Con đường đá chạy xuống phà chắc bây giờ bỏ hoang cho cỏ dại mọc lan. Tôi không về nên chỉ tưởng tượng được thôi. Sông kia rày đã nên đồng. Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai. Đêm nghe tiếng ếch bên tai. Giựt mình còn tưởng tiếng ai gọi đò. Đấy ông Tú Xương ngày xưa cảm khái như vậy đó sau khi con sông ở Nam Định quê ông bị Tây tới lấp đi. Nghe mà thấy tội tình. Tôi nghĩ ông chưa nói hết những điều muốn nói. Ông không chỉ nhớ tiếng gọi đò thôi đâu. Chắc chắn ông còn rất nhiều kỷ niệm khác mà ông giữ kín cho riêng mình. Bởi vì nói ra cũng không hết được. Mà lắm khi còn bị bĩu môi là hoài cổ, là không thức thời. Cũng như tôi bây giờ vậy, tôi cứ bị người quen kẻ lạ rầy rà, lắm khi mắng nhiếc khi thấy tôi cứng đầu cứ khư khư giữ riết lấy cho mình những hình ảnh cũ, những thương tiếc này, những ngậm ngùi nọ. Chi mà mệt vậy. Quên phức cái cho được việc. Cuộc đời còn hàng trăm chuyện phải lo, hàng ngàn chuyện phải làm, nhắc làm chi cái chuyện đất nước cũ xì, mốc thếch. Chuyện đời thay ngôi đổi chúa là thường tình, trăm họ có khốn khó thì cũng là vận số thôi. Thì vâng.. Nhưng vận số gì mà quái đản. Kẻ quyền thế dư ăn dư mặc thì cứ ngày một phủ phê. Còn đại đa số dân đen không bè không đảng, vốn dĩ nghèo đói thì cứ tiếp tục trần ai khổ lụy. Ra rả những tiếng kêu than uất nghẹn không thành tiếng. Mà giả sử có thành tiếng cũng chẳng ai nghe. Mà có nghe hổng chừng cũng chỉ có cai ngục trả lời. Nghĩ cũng đáng đời cho mấy chữ viết tắt “xhcn” mà người ta hay đọc trại ra là xuống-hố-cả-nút !

Đã không còn ngụy quân với ngụy quyền để đổ thừa, cũng không ai chen vào phá đám. Vậy thì tại sao? Chắc chắn không phải tại đám con đỏ đang chạy gạo từng bữa toát mồ hôi, càng không phải tại đám con ghẻ lang bạt kỳ hồ tứ tán ngoài cõi tạm. Vậy thì tại ai? Hỏi thì cứ hỏi chớ câu trả lời đã sờ sờ ra đó.

Gần đây bè bạn ân cần gởi cho mấy tấm hình chụp chiếc cầu trên sông Mỹ Thuận. Cầu mới tinh, cất theo kiến trúc và kỹ thuật tân kỳ, thoạt nhìn ngất ngưởng chẳng thua gì Kim môn kiều ở Cựu Kim Sơn, chỉ thiếu có một chút sương muối lửng tha lửng thửng là lẫn lộn như chơi. Cũng mấy cột tháp cao treo mấy sợi dây cáp cong cong. Nhìn trong hình chắc không đẹp bằng cảnh thực. Ngoài đó có con sông lớn, có gió lồng lộng, có mặt trời dát vàng buổi sáng, có mặt trăng dát bạc đêm rằm chắc còn đẹp hơn nữa. Ở xa tôi hình dung xe cộ qua lại suôn sẻ, khách đi đường khỏi phải lên xe xuống phà lôi thôi. Nghĩ tới nghĩ lui thấy cũng mừng. Mặc dầu trong bụng vẫn có chút nao nao khi biết đã mất rồi nơi chốn cũ. Bến phà xưa không còn nữa thì những vóc dáng xưa chắc cũng đã biệt mù. Chén cơm nóng lỡ đường, giỏ ổi làm quà đường xa, ly nước mía mới ép ngọt lịm, người chủ quán hay kể chuyện Tam quốc mấy buổi trưa ế khách, những cuộc tình xốc nổi, những gặp gỡ bất chợt, người hành khất mù và ngón đàn tận tuyệt… tất cả rồi sẽ được xếp vào loại chuyện cổ tích mà người kể nào cũng bắt đầu bằng hai tiếng “hồi xưa…”. Có thể mấy chi tiết mà tôi vừa nhắc đã mất đâu từ nhiều năm trước. Có thể trong thời buổi gạo châu củi quế người ta phải vội vã hơn trước, ăn uống nhín nhút, nói cười dè sẻn chớ không còn bung thùa như thuở tôi còn đi lại. Có thể cái bến nước đó đã mất phong độ từ lúc mới đổi đời. Nếp tinh thần đã khác thì nếp sống cũng khác theo. Người đi lại ơ thờ thì sông nước cũng chỉ là một cõi bơ vơ có lấy gì làm thân thiết. Nếu bây giờ đường đi phải rẽ qua hướng khác để đắp cao dốc cầu, bỏ lại xóm cũ hắt hiu thì cũng chỉ là nối tiếp một cách hợp lý cái cuộc sống đã bị bỏ quên từ lâu lắm. Bởi vậy mà càng nhìn tấm hình chiếc cầu mới, tôi càng thấy buồn hơn vui. Chiếc cầu được xây cất bằng vốn liếng tiền bạc và kiến thức của người nước ngoài để nối hai bờ con sông trắc trở. Mừng thì có mừng cho việc đi lại đỡ phần vất vả nhưng sao vẫn tiếc cho một nếp đời đã ăn sâu trong lòng của một số không ít người.

Và nhất là cứ tự hỏi, sao còn hàng chục triệu chiếc cầu lỗi nhịp trong lòng người mà không chịu lo bắt lại để mọi tấm lòng người Việt không còn những bờ bến phân chia?

Chính vì những chiếc cầu lỗi nhịp đó mà tới giờ này tôi chưa trở lại được quê nhà.

Cao Vị Khanh

Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2024

NGƯỜI VỀ, quá bước ...


1.Hôn em

nửa miếng
Sài gòn.
Còn dư nửa miếng
giữ buồn trong tim.
Mai về
lựa miếng thiệt mềm
hôn em
bù tháng
thêm năm
đợi chờ.

2.Em về
tôi gởi tôi theo.
Hành trang có chật
tôi đeo áo ngoài.
Lỡ mai
mưa có dặm dài,
che em chút gió
đỡ gầy vai em.

3.Em về quá bước
Vĩnh long.
Ba sinh lỡ đứt
tơ hồng lại vương.
Em về qua đó,
nửa đường.
Lòng tôi
trăm mối
héo hon
nỗi mình.

Cao Vị Khanh

Thứ Năm, 13 tháng 6, 2024

NGƯỜI ĐI, trệch bước ...


Còn đây
nửa giấc
mơ hoa.
Nửa kia,
lỡ
đã lạc xa theo người.
Còn riêng,
riêng chút
mộng tôi
giữ nguyên phận cũ
khỏi phơi bụi lầm.
Người đi,
trệch bước,
xa xăm.
Tôi buồn
y thể
lệ
thăm thẳm
nhòa.
Người ơi,
mỗi bước
người xa
tôi về
mỗi bước
mỗi hoa
héo.
Thầm.

Cao Vị Khanh

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2024

Sầu Có Cạn



Biết đến bao giờ thôi khóc nhau!
Chừng nào vải trắng hết ngùi đau!
Ta về thăm lại vườn quê cũ,
nước một dòng sâu có cạn sầu?

Cao Vị Khanh


Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2024

Vĩnh Long Còn Đó Nỗi Niềm


Có bữa mơ về ngang Mỹ thuận
Ngay mùa gió chướng nước tuôn tuôn
Bên kia sông Cái, con đường lớn
Ngó mút hàng cây ... chợt thấy buồn

Vĩnh long còn đó, ở cuối đường
Cách mấy cầu ngang, mấy dặm sương
Như thể dang tay là giáp mặt
Sao lòng thiên lý vẫn tha hương

Vĩnh long sao thiếu một nụ cười
Dường như thưa thớt một làn môi
Nghe như xa vắng, như hờn tủi
Như đã chờ nhau lỡ một thời

Sao nghe như vẫn tiếng thở dài
Ngờ trong sương khói có mây bay
Có người trắng tóc mù đôi mắt
Khóc suốt mười năm cuộc đổi thay

Em có còn qua những lối trăng
Ðường về Tân ngải miệt Trường an
Nhà ai bông bưởi rơi đầy ngõ
Vương vướng chân quen mấy nụ vàng

Em có về qua lối hẹn xưa
Ðường Trương-Vĩnh-Ký nắng hay mưa
Thềm rêu mấy dấu giày thương nhớ
Chắc cũng mòn theo ngọn gió lùa

Em có về theo chuyến xe chiều
Ngang cầu Thiềng đức lạnh mùi rêu
Xe đi có nhớ lòng gỗ mục
Khi nắng mùa mưa đổ quạnh hiu

Vĩnh long, này chút nghĩa cũ càng
Không về đâu tại thiếu đò ngang
Ba sinh cũng muốn dài hương lửa
Nhưng giữa lòng ta ...những mộ hoang!

Cao Vị Khanh


Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023

Ơn Người


Ơn em ngọt suối ngọt đồi
Ngọt câu muối mặn, ngọt lời gừng cay
Ngọt tình nhân rất đắm say
Ngọt tấm mẳn tưởng chằng dây cát đằng.....
.....
Ngọt tình sao đắng môi hoang
Ờ, sông núi cản nên quàng tay không.

Cao Vị Khanh



Thứ Ba, 15 tháng 8, 2023

Rượu Chiều


Rượu chiều chưa ngấm đã say

đã hai con mắt phương đoài đăm đăm .
Người đi chẳng một vọng âm
chỉ nghe quạnh một tiếng thầm trong tôi .

cao vị khanh
***
Cảm Tác:

Chén Sầu

Rượu nồng giọt thấm men say
Chén sầu khôn tả đọa đày con tim
Quên chăng níu tạm bóng tìm
Cõi lòng se lạnh dần chìm cơn mê

Kim Phượng


Thứ Tư, 2 tháng 8, 2023

Cảm Kính - 感 鏡 - Bạch Cư Dị - 白居易


感 鏡                               Cảm Kính

美人與我別,                  Mỹ nhân dữ ngã biệt
留鏡在匣中。               Lưu kính tại hạp trung
自從花顏去,                 Tự tòng hoa nhan khứ
秋水無芙蓉。              Thu thủy vô phù dung
經年不開匣,                 Kinh niên bất khai pháp
紅埃覆青銅。              Hồng ai phú thanh đồng
今朝一拂拭,                 Kim triêu nhất phất phức
自照憔悴容。              Tự cố tiều tụy dung
照罷重惆悵,                 Chiếu bãi trùng trù trướng
背有雙盤龍。              Bối hữu song bàn long

白居易                           Bạch Cư Dị

Phỏng Dịch:

Đối Bóng

Từ em bỏ lại tình ta
Nước hồ thu cũng nhạt nhòa bóng ai
Gương soi mấy dấu trang đài
Lãng quên mấy lớp trần ai, bụi mờ
Sớm lau bụi nhẹ như tơ
Sao hình ngó bóng lặng lờ, tiêu hao
Tình xa, xa tự hôm nào
Dấu xưa quấn quýt còn sau gương đồng!

Cao Vị Khanh


Thứ Ba, 18 tháng 10, 2022

Chim Biển Bắc*


Chim Biển Bắc*

Hẹn nhau tóc thuở còn xanh
chừng đâu tóc úa còn loanh quanh tìm
Thôi thì người đã như chim!
Bay đi!
bay đi cho khỏi đắm chìm biển sâu.
Sâu... sâu... sâu ngút cõi sầu,
hồn rêu trầm tích đục ngầu dấu mê.
Bay đi, bay huốt câu thề…

Cao Vị Khanh

*ca dao-tìm em như thể tìm chim
chim bay biển bắc anh tìm biển đông
***
Thơ Cảm Tác:

Đi Tìm Biển Đông

Và như biển sóng ngàn sau
Về đâu cũng mặn một màu nhân gian
Và như chim cánh mây ngàn
Về đâu em hỡi, cũng ngang kiếp này...
Câu thề năm ấy còn đây
Mà sao tóc thuở xanh ngày tháng xưa
Bao giờ biển bắc còn mưa
Biển đông mắt khóc cho vừa nhớ thương...

Durham, North Carolina
Nguyễn Vĩnh Long
***
Phượng Tìm Hoàng*

Thì thôi lạc nẽo thiên đường
Lời nguyền bay huốt buồn vương mắt huyền
Cung đàn đứt khúc kỳ duyên
Bỏ thuyền xa bến thuyền quyên im lìm
Chim hoàng mất lối phượng tìm
Tìm đâu ơi hỡi cánh chim phiêu bồng
Soi trong biển bắc mênh mông
Cầm như tiền kiếp biển đông đã tìm

Kim Phượng

* Tựa đề thơ Đinh Hùng do Châu Kỳ phổ nhạc


Thứ Hai, 13 tháng 6, 2022

Dặn Dò - Âu Đã

     (Ảnh: Kim Phượng)

Bài Xướng:

Dặn Dò

Cầm tay dợm hỏi con đường
Mùa xuân quá lứa dè chừng dợm phai
Chờ nhau ở cuối dặm dài
Ngẫm ra y thể đọa đày chiếu chăn
Thì thôi cõi mộng thiệt gần
Cầm như sau trước chỉ ngần ấy thôi
Vui đi, mai mốt... cũng rồi
Nguôi ngoai tất cả một đời chiêm bao.

Cao Vị Khanh
***
Bài Họa:

Âu Đã


Dợm chi đánh tiếng hỏi đường
Thiên hương thoắt gãy dường chừng úa phai
Ngờ dâu lục bát đủ dài
Tình say nửa mảnh e đày đọa chăn
Tám câu thanh thú mơ gần
Hay chăng muôn sự ngại ngần thì thôi
Hoa trôi âu đã đã rồi
Bèo mây lơ lửng mộng đời là bao

Kim Phượng