Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hoài Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hoài Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2022

Haiku - 102 bis



Hoa dại ven đường
Ghé tay hái vội
Thơ
***
Bờ vai người đợi
Chiều nay mưa rơi
Môi
*****
Thịt da gửi lại
Hương người mang theo
Yêu
***
Một phút nâng niu
Một đời đắp mộ
Buông

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam


Thứ Năm, 23 tháng 9, 2021

Mùa Hoa Mận Trắng


Tháng mấy mùa hoa mận nở
Nhớ không anh phía trước sân nhà
Và con đường hai buổi ngày qua
Che bóng mát em về khi nắng

Hoa mận trắng như lòng giấy trắng
Em viết gì khi nhớ người ta
Cũng một lần ánh mắt trông xa
Như khẽ nói, ừ thì thương quá!

Ngày với tháng thay mùa theo lá
Ta theo nhau mấy biển mấy ngàn
Như hoa nở mấy lần đơm trái
Trước sân nhà nay vắng người sang...

Hoa vẫn trắng bao mùa thương nhớ
Có hôm về ghé lại vườn xưa
Cây vẫn xanh đời lá thay mùa
Em như lá mấy mùa ngóng đợi

Bến sông nhỏ bóng chiều vời vợi
Chuyến đò đưa khách một mùa xa
Hoa mận rơi trắng dưới sân nhà
Lòng em vẫn ngày xưa giấy trắng..!

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam

 

Thứ Hai, 23 tháng 8, 2021

Mùa Vu Lan Năm Nay


Mùa Vu Lan Mẹ cúi đầu xuống thấp
Bên xác chồng trong nỗi lặng thinh
Mùa Vu Lan Mẹ không còn nước mắt
Khóc cho con trong câm nín tội tình!

Cuối tháng Tám, 2021
Nguyễn Hoài Nam


Thứ Tư, 4 tháng 8, 2021

Linh Hồn Ngôn Ngữ


1. Nhà văn Cao Hành Kiện:

                                         Nhà văn Cao Hành Kiện 

    Giải Nobel Văn Chương thường được trao cho các nhà văn đã đem lại "một hình ảnh rõ rệt về cuộc sống của con người cũng như một lý tưởng cao đẹp". Năm 2000 khi trao giải thưởng Nobel Văn Chương cho Cao Hành Kiện (Gao Xingjian), một nhà văn Trung Hoa lưu vong hiện có quốc tịch Pháp. Viện Hàn Lâm Thụy Điển đã đưa ra nhận định rằng "tác phẩm của ông có tầm ảnh hưởng quốc tế, ghi đậm nét một nhận thức chua chát và một bút pháp tài tình, vạch ra những con đường mới cho nghệ thuật tiểu thuyết và kịch nghệ Trung Hoa". 

    Đã có vài nhà văn Á châu đoạt giải Nobel văn chương như Rabindranath Tagore (1913), Yasunari Kawabata (1968), Kenzaburo Oe (1994), nhưng đây là lần đầu tiên Hàn Lâm Viện Thụy Điển trao giải cho một người Trung Hoa, mà lại là một người Trung Hoa đã từ bỏ đảng Cộng Sản, sống nương náu tại Paris, viết cả tiếng Trung Hoa lẫn tiếng Pháp.

    Ông sinh tại Cống Châu, Giang Tây vào năm 1940, năm của một nước Trung Hoa loạn lạc trong khung cảnh cuộc chiến Trung Nhật. Có lẽ giống nhiều đứa trẻ Á châu sau này, ông đã chào đời, như lời mẹ ông nói với ông, " ngay trong lúc máy bay đang thả bom". Cuộc sống của ông bắt đầu trong bom đạn và tiếp diễn trong xáo trộn, chống đối, đàn áp, trốn chạy... Đúng, hầu như lúc nào cũng trốn, cũng chạy...như tựa đề của cuốn sách "Kẻ Trốn Chạy" của ông. Ông nói : " Tôi là kẻ tị nạn từ thuở lọt lòng mẹ.".

 
 
 Hình ảnh lịch sử tại quảng trường Thiên An Môn năm 1989

    Ông ly khai đảng cộng sản Trung Hoa năm 1989 khi cộng sản Trung Quốc mang xe tăng đàn áp những người biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn. Ông sống lưu vong tại Pháp và tiếp tục sự nghiệp văn chương của ông với những tác phẩm viết cả bằng tiếng Trung Hoa lẫn tiếng Pháp. Năm 1992, ông lãnh Huân Chương Nghệ Thuật và Văn Chương và năm 1994 ông đoạt Giải Cộng Đồng Pháp của Vương Quốc Bỉ với tác phẩm "Kẻ Miên Hành" và Giải Tân Niên của cộng đồng Trung Hoa năm 1997 với tác phẩm "Linh Sơn" (Soul Mountain). Ông lấy quốc tịch Pháp vào năm 1998 và sống tại một căn phòng tầng thứ 18 của một chung cư tại Paris, thành phố mà ông cho là nơi trú thân lý tưởng nhất cho những tâm hồn nghệ sĩ khát vọng tự do và sáng tạo. Từ căn phòng của ông, như lời ông nói, ông có thể nhìn ngắm tháp Eiffel với cảnh hoàng hôn tắt nắng, và Paris chầm chậm đi vào màn đêm thơ mộng, êm ái, nhưng cũng đầy rạo rực, nồng ấm.

    Tác phẩm quan trọng nhất của ông, cuốn tiểu thuyết " Linh Sơn" (Soul Mountain) được ông khởi sự viết từ năm 1982. Đây là một hành trình của một tâm hồn qua thời gian và không gian, trong khung cảnh của các đồi núi, đồng cỏ, làng mạc Trung Hoa, để tìm lại cội rễ, sự an bình và tự do của nội tâm. Chuyến đi xa vào năm 1986 chắc chắn đã giúp ông nhiều ý tưởng, hình ảnh, tài liệu cho cuốn tiểu thuyết nổi tiếng này mà mãi đến năm 1995 mới được xuất bản tại Pháp. Tờ báo Le Monde của Pháp đã dành một bài viết đặc sắc để giới thiệu cuốn tiểu thuyết quan trọng này ngay sau khi Cao Hành Kiện đoạt giải Nobel văn chương. Tác giả bài viết này, tên viết tắt là J.L.D, giới thiệu tác phẩm " Linh Sơn " của Cao Hành Kiện, xin được thoáng dịch một đoạn như sau:

    "Trong tác phẩm 'Linh Sơn' này, một người với túi sắc trên vai, đã ngược xuôi, khi thì chân đất, khi thì trên yên xe đạp hay lắc lư theo nhịp một chiếc xe thồ, để đi tìm một ngọn núi bí mật, tượng trưng cho một nơi lý tưởng để con người có thể 'rũ bụi trần ai'. Theo chân các di tích của Trung Hoa cổ xưa, một Phương Đông huyền bí và ma quái, với khoa học của Lão Tử, gã ta đã đi kiếm một nơi nương náu, trú thân với bao nhiêu những kỳ tích hoang đường tưởng chừng như đã biến với thuở hoang sơ: những đồng lúa chín vàng và rừng tre xanh biếc, những vị phù thủy hét ra lửa, những con khỉ gào thét, rú lên từng hồi, những con rắn chọc phá, cướp bóc mồ mả; gã ta nói đến sự bảo vệ giống gấu mèo cũng như sự tàn phá môi trường trong vùng sông Dương Tử. Cao Hành Kiện đã trở về với những chiến công của các nữ hiệp sĩ trong các truyện kiếm hiệp, những lễ hội tưng bừng với những lồng đèn rồng, những con kỳ nhông khổng lồ hay những con chim vĩ đại khao khát mật ngọt của cây lệ quyên... những kinh kệ ê a bên cửa chùa, những thuyền mành mỏng manh, những chiếc dù xinh xắn, những thiếu nữ đùa nghịch, chạy trốn và khẽ kêu một tiếng đầy hoan lạc khi ngón chân vừa chạm vào làn nước sông trong xanh."

     Khi nhận xét Cao Hành Kiện là " một kẻ quan sát đầy ngờ vực nhưng sáng suốt không nhằm giải thích thế giới" và trao giải thưởng Nobel văn chương cho ông, Hàn Lâm Viện Thụy Điển đã không chỉ trao giải thưởng cho một tài năng văn chương, mà còn cho một tấm lòng kiên trì của một nghệ sĩ đã dùng nghệ thuật của mình để chống lại tất cả sức mạnh của bạo quyền và hận thù để nói lên tiếng nói của cuộc sống đích thực, tiếng nói muôn đời của tự do và hạnh phúc. Ông là một "Kẻ Miên Hành", nhưng là một kẻ miên hành vẫn đủ tỉnh táo để trình bày, phê phán và tìm kiếm chân lý của cái đẹp.

2. Nhà văn Kim Thúy:

                              Nhà văn Kim Thúy và tác phẩm “Ru”

    Một tên tuổi xa lạ, là một phụ nữ trẻ gốc Việt, hiện sống ở Canada. Cũng như bao nhiêu người Việt sau biến cố 30/04/1975 đã bỏ nước ra đi, gia đình cô bé Kim Thúy cũng đã tìm cách vượt biên bằng thuyền đến Mã Lai, được đưa vào trại tị nạn, sống ở đấy chờ đợi cho đến khi được nhận vào đệ tam quốc gia là Canada.

    Kim Thúy sinh tại Sài Gòn trong một gia đình thuộc giai cấp trưởng giả, nhiều thành viên trong gia đình là công chức cao cấp hay ít ra cũng sống một cuộc sống thong thả mà với xã hội Sài Gòn hồi ấy, nếu cô chịu tiết lộ một số tên tuổi thì có lẽ chúng ta sẽ có thể nhận ra cô là ai, thân phụ cô hoặc những bà con xa gần của cô là những người nào; tiếc thay cô đủ kín đáo và kiêu hãnh để không nói rõ hơn. Kim Thúy sinh đúng vào Tết Mậu Thân, một biến cố lịch sử mà không một người dân miền nam nào có thể quên được cho dù họ thuộc phe nào, khuynh hướng chính trị nào. Cô lên mười tuổi khi gia đình cô lên thuyền vượt biển trốn khỏi Việt Nam. 

    Cuốn truyện kể mang tựa đề là "RU" vừa có nghĩa tiếng Việt vừa có nghĩa Pháp. Trong Pháp ngữ : giòng suối nhỏ, theo nghĩa đen, và sự chảy (chảy nước mắt, chảy máu) nghĩa bóng. Trong tiếng Việt RU có nghĩa là bài hát để ru trẻ con vào giấc ngủ an lành. Tác giả cho biết là cô từng là chủ một quán ăn ở một thị trấn nào đó thuộc xứ Canada, mang tên là "Ru de Nam". Khi lấy tên ấy làm tên tác phẩm đầu của mình hẳn tác giả có một dụng ý. 

    "... Trước khi tàu chúng tôi nhổ neo giữa đêm bên bờ biển Rạch Giá, đa phần các hành khách chỉ có một nỗi sợ, sợ cộng sản, nguyên do khiến họ bỏ trốn. Nhưng ngay khi bao quanh con tàu, bủa vây con tàu chỉ còn độc một chân trời xanh lơ đồng nhất, nỗi sợ bèn biến thành một con quỷ trăm mặt, cưa chân chúng tôi, khiến chúng tôi không cảm nhận được những cơ bắp bất động của mình đang tê cứng. Chúng tôi chết sững trong sợ hãi, vì sợ hãi. Chúng tôi không chợp nổi mắt nữa khi nước tiểu của đứa bé có cái đầu ghẻ lở bắn lên người chúng tôi. Chúng tôi không còn bịt mũi nữa khi nhìn những người xung quanh nôn mửa. Chúng tôi tê cứng, bị kẹt giữa những bờ vai người này, những chân cẳng người kia và nỗi sợ của tất cả. Chúng tôi tê liệt.

    Câu chuyện về một cô bé bị biển khơi nuốt chửng khi bước hụt chân lên tàu lan khắp lòng tàu bốc mùi như một thứ khí gây mê, hoặc gây đê mê, thứ khí ấy biến cái bóng đèn duy nhất thành ngôi sao Bắc cực còn những chiếc bánh bít cốt đầy dầu máy thành bánh quy bơ. Cái mùi dầu máy trong họng, trên lưỡi và trong tâm trí đưa chúng tôi thiếp đi theo nhịp bài hát ru của người phụ nữ ngồi bên." (dịch một trích đoạn trong tác phẩm RU).

    Cuốn truyện vừa in ra là được đón tiếp nồng nhiệt, được dịch và in trên nhiều nước. Ở Pháp truyện được chọn nhận giải Lire-RTL (Lire là tên của một tạp chí văn chương chuyên ngành và RTL là hãng truyền thanh và truyền hình). Vào chiều ngày 10 tháng 5, 2010 nhân buổi lễ khai mạc tuần lễ sách tại Paris (Salon du Livre) người phụ nữ nhỏ bé mảnh mai ấy đứng giữa hai ông hộ pháp François Busnel chủ bút tờ Lire và Philippe Labro giám đốc đài RTL, cả hai đều là những nhà văn nổi tiếng, trịnh trọng trao giải thưởng cho Kim Thúy và giải thích lý do sự chọn lựa tác phẩm của cô. Sau khi "RU" ra mắt tại Pháp thì nghe rằng ở Canada sách cô không còn tìm thấy trên kệ nữa. Số sách in đã lên đến 25,000 cuốn.

3. Nhà văn Lan Cao:

           Tác phẩm “Cầu Khỉ” (Monkey Bridge) và nhà văn Lan Cao

    Nói đến những văn sĩ người Mỹ gốc Việt, người ta không thể quên Lan Cao. Lan Cao, Cao Thị Phương Lan, là ái nữ của cố Đại Tướng Cao Văn Viên. Bà sinh năm 1961, cùng gia đình di tản đến Hoa Kỳ lúc 13 tuổi. Năm 1983, Lan Cao tốt nghiệp cử nhân ngành Khoa Học Chính Trị tại Đại Học Mount Holyoken, và Tiến Sĩ Luật tại Đại Học Yale. Lan Cao là một trong số những người Mỹ gốc Việt viết sách tiếng Anh hiếm hoi được những nhà xuất bản có tiếng của Hoa Kỳ chọn in. Tác phẩm đầu tay “Monkey Bridge” (Cầu Khỉ) của Lan Cao là tiểu thuyết viết theo thể loại tự truyện, kể lại cuộc đời của hai mẹ con người Việt di tản cư ngụ tại Little Sài Gòn từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. “Cầu Khỉ ” đưa người đọc cùng với Mai trở về xã hội miền nam Việt Nam thời Đệ Nhị Cộng Hòa, để tìm thân nhân và nếm trải nỗi buồn niềm vui với họ. 

    Tác giả Lan Cao cũng được Viking Penguin phát hành cuốn sách thứ hai, có tên "The Lotus and the Storm" (Hoa Sen và Bão Tố) sau khi xuất bản cuốn "Monkey Bridge" (Cầu Khỉ) rất thành công vào năm 1997. Tuy là một nhà văn, Lan Cao lại theo đuổi ngành luật. Bà hiện là giáo sư giảng dạy môn luật kinh tế quốc tế tại Chapman University.

    “Cầu Khỉ” của Lan Cao viết về chiến tranh, và những hệ lụy còn rơi rớt lại trong đời của một số người Việt lưu vong. Tâm sự và cuộc đời của họ ở chừng mực nào đó cũng chơi vơi, cũng chênh vênh như những nhịp cầu tre bắc ngang dòng sông chảy xiết. Một độc giả đọc “Cầu Khỉ” rồi đã ghi lại cảm nhận: "Một mai cố quận tìm về / Qua sông cầu khỉ vọng hề tiếng xưa / Con đường đi vội quá trưa / Bến ni bờ nọ cũng vừa thiên thu".

    Ngôn ngữ, trong “Monkey Bridge” (Cầu Khỉ) đã được nhìn ngắm ở hai phía trái ngược. Một là ngăn cách trở ngại của ngôn ngữ. Và hai là, sức mạnh của ngôn ngữ. Trong lá thư bí mật mà bà Thanh gửi lại cho con, bà đã viết rằng Mai đã xấu hổ vì bà nói tiếng Anh không đúng “accent” mặc dù bà nói tiếng Việt và tiếng Pháp rất chuẩn. Và ở một phía khác, Mai đã nhìn thấy được uy lực của “tặng phẩm của ngôn ngữ”:
     "Ở trong thanh âm mới của tôi, thanh âm mà tôi thực sự phát ra từ cổ họng, là một uy lực kinh ngạc mới mẻ. Đối với mẹ tôi và những người láng giềng, tôi bắt đầu nắm giữ cả thế giới, một độc nhất với thế giới tiến bộ xán lạn. Giống như ông Adam, tôi đã như được Thượng Đế ban cho quyền năng chỉ danh tất cả các loài chim chóc ở trên trời và các loài thú vật trên cánh đồng. Quyền được chỉ danh, tôi nhanh chóng tìm kiếm được quyền giữ gìn ngôn ngữ và quyền thỉnh cầu thẩm quyền tiếng nói của thuần khiết không giả tạo" (trích đoạn "Cầu Khỉ").

    Cả ba nhà văn đều viết các tác phẩm ở ngoài quê hương của họ, bằng ngôn ngữ không phải tiếng “mẹ đẻ” của mình. Nhưng không ai có thể phủ nhận trong từng câu, từng chữ mang đậm nét văn hóa, tính dân tộc và linh hồn của quê hương dù ngàn dặm cách xa. Tự tình dân tộc quyện lẫn, khắc sâu trong mỗi trang lịch sử của đất nước, dân tộc được trân trọng và nâng cao đến một tầm cao của nhân loại. Hình ảnh đất nước và con người của quê hương họ, như những chuỗi sao kết nối, soi sáng trên mỗi thân phận và hơi thở của từng nhân vật trong tác phẩm.    

    Đã có hàng triệu người Việt nói, đọc và viết tiếng Việt như ngôn ngữ “mẹ đẻ” nhưng lại mang tinh thần lai căng, vọng ngoại. Giá trị của ngôn ngữ không phải chỉ là việc lặp lại như một "con chim biết nói" mà sử dụng và biểu hiện như linh hồn của tiếng nói từ trái tim của chúng ta. Đó chính là linh hồn của ngôn ngữ, sâu thẳm bên trong tâm hồn, nhân cách chứ không phải chỉ là thứ phương tiện của tiếng nói và chữ viết trong cuộc sống giao tiếp vô hồn.

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam 

 

Thứ Sáu, 30 tháng 4, 2021

Tháng Tư và Những


Tháng Tư và những cơn mưa cũ
Thắm giọt buồn rơi một cuối trời
Bốn mươi năm lẻ chừng như đã
Theo nhánh sông đời lặng lẽ trôi

Tháng Tư và những bàn tay mỏi
Tiễn biệt người đi ngón vẫy mòn
Sắc nhạt bờ môi sầu gương hỏi
Đâu hởi mùa em hương phấn soi?

Tháng Tư và những ngày hiu hắt
Đứng dựa bờ tây nhớ cội nguồn
Ngóng theo bóng nhạn về bên ấy
Chắc đẫm mùa trăng tiếng gọi sương?

Tháng Tư và những buồn vui lẫn
Mấy ai còn nhắc chuyện hoang đường
Một thời cây trút từng thân phận
Như lá trên rừng phủ vết thương…

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam

 

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

Covid -19 Và Vấn Đề Xã Hội


1) Chủng ngừa Covid-19:

     Tính đến hôm nay tôi đã được chủng ngừa Covid-19 và hệ miễn dịch bắt đầu có hiệu quả. Hiện nay có ba loại thuốc chủng ngừa Covid-19 được nhắc tới và sử dụng ở Hoa Kỳ. Pfizer: được tiêm làm 2 đợt cách nhau 13 tuần lễ; Moderna: được tiêm làm 2 đợt cách nhau 14 tuần lễ; và Johnson & Johnson: chỉ tiêm một lần. Và gần đây bộ y tế Mỹ thử nghiệm thêm loại chủng ngừa Covid-19 nữa là AstraZeneca. Moderna là loại chủng ngừa coronavirus mà tôi được tiêm, chia làm 2 đợt cách nhau 4 tuần lễ. Đợt tiêm đầu (ngày 11 tháng 2) không có nhiều phản ứng phụ, chỉ đau "rêm rêm" cánh tay vài ngày. Đến đợt 2 (ngày 12 tháng 3) thì cơ thể có nhiều phản ứng và "bị hành" dữ dội. Hôm chích ngừa đợt hai, tôi bị nóng sốt cao và cơ thể khó chịu không ngủ được cả đêm hôm đó. Ngày hôm sau, thân thể mệt mỏi rã rời và lúc nào cũng cảm giác ớn lạnh, đầu óc trĩu nặng. Thường thì tôi hay tắm vào lúc sáng sớm, nhưng hôm đó thì chỉ "trùm mềm" không dám bước xuống khỏi giường ngủ. Theo lời dặn của nhân viên y tế, tôi uống Tylenol liên tục, cách nhau mỗi 6 giờ. Cổ họng khô và đau nên cũng không màng ăn buổi sáng và cả buổi trưa. Nằm liệt giường và ngủ chập chờn đến khoảng gần 5 giờ chiều, thì tôi cảm thấy dễ chịu hơn, cơ thể đổ mồ hôi và bớt ớn lạnh. Bằng mọi cố gắng tốc mềm ngồi dậy, tôi quyết đi tắm bằng nước nóng. Quả thật như vậy, sau khi tắm trong bồn bằng nước nóng tôi thấy tinh thần "phấn chấn" hơn rất nhiều, mặc dù cơ thể vẫn còn mệt mỏi. Buổi chiều cố ăn một chén cháo trắng với thịt kho khô và tiếp tục uống Tylenol. Đêm thứ hai bớt nóng sốt và ngủ yên giấc hơn. Đến ngày thứ ba thức dậy sớm, thấy dễ chịu và chỉ cánh tay là còn đau nhức thêm vài ngày nữa mà thôi.


                     Moderna vaccine / Pfizer vaccine / J&J vaccine

     Như vậy là đợt chích ngừa lần 2 của Moderna Covid-19 đã "hành" tôi gần đúng 2 ngày! Tuy nhiên nói theo phương thức y học thì đây là điều rất tốt. Vài ngày "nóng lạnh" cho thấy cơ thể đã phản kháng, chống lại chủng ngừa coronavirus xâm nhập vào cơ thể. Như một cuộc tập trận, cơ thể bạn "làm quen" với chiến trường, nâng cao hệ miễn dịch đối với Covid-19. Nếu các bạn đã được chủng ngừa coronavirus tôi tin rằng các bạn cũng trải qua những phản ứng như vậy? Hay nếu các bạn chưa được chủng ngừa, thì đây cũng xem như là kinh nghiệm của người đi trước, để các bạn yên tâm và chuẩn bị tinh thần! Và phải 2 tuần (14 ngày) sau khi chủng ngừa Covid-19 (đợt 2) thì hệ miễn nhiễm của các bạn mới bắt đầu có hiệu lực! Trong giai đoạn hiện nay chủng ngừa chỉ giúp sức đề kháng, hệ miễn dịch cá thể nên tôi vẫn phải tiếp tục đeo khẩu trang nơi công cộng, để bảo vệ việc lây nhiễm xã hội cho đến khi toàn thể nước Mỹ được chủng ngừa Covid-19.
     Những ngày nằm "co ro", liệt giường vì bị hành tôi mới thấy cuộc đời thật đáng sống và cũng thật vô thường. Đáng sống vì giá trị nhân bản, sự kỳ diệu của sáng tạo không ngừng của con người nhằm khắc phục và giải cứu nhân loại trong kiếp nhân sinh. Vô thường vì sinh mạng của chúng ta thật mong manh, nhỏ bé biết chừng nào so với những biến động không ngừng và vô chừng của vũ trụ. Có hay không, buông hay nắm, may hay rủi, vui hay buồn, hạnh phúc hay đau khổ, yêu thương hay thù hận, may mắn hay bất hạnh,... tất cả chỉ là cuộc sống, chỉ là một kiếp người.

2) Covid-19 và vấn đề xã hội:


     Vụ nổ súng nhắm vào 3 tiệm massage tại Atlanta tiểu bang Georgia, Mỹ ngày 16 tháng 3 vừa qua khiến 8 người thiệt mạng trong đó có 6 người phụ nữ gốc Á châu. Cuộc thảm sát đã gây chấn động cả nước Mỹ và thế giới trước vấn nạn kỳ thị chủng tộc gia tăng mạnh mẽ. Theo tin của đài Việt ngữ BBC: các vụ kỳ thị mang tính thù hằn nhắm chống người châu Á tăng gần 150% vào năm 2020, hầu hết ở New York, San Francisco và Los Angeles.
     Kỳ thị màu da là vấn nạn xã hội vốn đã có từ lâu trong lịch sử của nước Mỹ. Nhưng kỳ thị nhắm vào người gốc Á châu, chừng như bắt đầu xảy ra từ cơn đại dịch coronavirus phát xuất từ Vũ Hán, Trung Quốc. Và gần đây các từ ngữ được gọi như: Dịch Cúm Tàu (China Virus) hay Dịch Cúm Vũ Hán (Wuhan virus) đã tạo nên những ngộ nhận tai hại trong vấn đề kỳ thị người gốc châu Á. Người Mỹ không thể nào phân biệt người Trung Quốc, người Nhật Bản, người Hàn Quốc, người Việt Nam, người Philippine, người Lào, người Thái Lan,... nhìn từ hình dáng bên ngoài. Những cuộc tấn công gây thương tích tại San Francisco, Oakland, New York... cho thấy nạn nhân gốc Á bao gồm nhiều quốc gia khác nhau. Nhưng cho dù thế nào, chúng ta cũng không khỏi những lo ngại vấn nạn kỳ thị người gốc Á châu phát xuất từ cơn đại dịch coronavirus đã và đang xảy ra ở nước Mỹ và cả một số quốc gia Âu châu như Pháp, Anh, Đức...
     Không như cơn đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918, con số người nhiễm bệnh và tử vong chỉ nói lên vấn đề y học của thời đại, không mang màu sắc chính trị và xã hội. Cơn đại dịch coronavirus trong thế kỷ mà nền khoa học hiện đại, công nghệ thông tin toàn cầu đã dẫn đến nạn kỳ thị chủng tộc người Á châu đáng lo ngại. Những thế hệ người di dân, người tị nạn gốc Á tại nhiều quốc gia trên toàn cầu đã và đang đối mặt với những nghi kỵ và phong trào gây thù ghét trong cộng đồng người bản xứ.

                   Hình ảnh hành hung người gốc Á châu tại Hoa Kỳ

     Vào ngày thứ Sáu 19 tháng 3, Tổng thống Joe Biden và Phó Tổng thống Kamala Harris đã kêu gọi người dân Hoa Kỳ đoàn kết chống lại nạn kỳ thị chủng tộc, đồng thời lên tiếng chống lại bạo lực nhắm vào người Mỹ gốc Á. Những tuyên bố được đưa ra sau khi Tổng thống và Phó Tổng thống gặp gỡ các nhà lãnh đạo người Mỹ gốc Á tại tiểu bang Georgia sau khi xảy ra vụ nổ súng ở khu vực Atlanta giết chết 8 người, trong đó có 6 phụ nữ gốc Á, đã nói tầm mức quan trọng và khẩn cấp của vấn đề.
     Nhiều tổ chức đoàn thể người gốc Á châu đã lên tiếng bằng những cuộc biểu tình trên các thành phố tại Hoa Kỳ để lên án và kêu gọi chấm dứt hành động thù ghét và kỳ thị này. Tuy đây có thể là hành động của một thiểu số người bản xứ quá khích, nhưng để ngăn chặn và xóa bỏ tư tưởng kỳ thị chủng tộc cũng không phải là "chuyện một sớm một chiều". Tất cả đòi hỏi thời gian và tinh thần đoàn kết trong tập thể của các thế hệ người gốc Á châu tại Hoa Kỳ và các quốc gia cùng khắp thế giới.


     Chúng ta đang sống trong thời đại của nền kỹ thuật công nghệ toàn cầu, mong rằng sự phát triển của thuốc chủng ngừa Covid-19 sẽ đẩy lui cơn đại dịch và chấm dứt vấn nạn kỳ thị chủng tộc trong những ngày tháng tới. Đây không phải chỉ cho thế hệ chúng ta mà còn cho thế hệ của con, cháu chúng ta những người gốc Á châu đang sinh sống và đóng góp sức lực, tài năng và trí tuệ vào sự phát triển chung của nhiều quốc gia trên toàn thế giới.

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam

 


Thứ Tư, 24 tháng 2, 2021

Sinh Nhật

 

Mừng em sinh nhật mỗi năm
Đếm thời gian thắp những ngần ngại thêm
Mừng em từng ngọn nến mềm
Lung linh tuổi mới muôn niềm ước mong
Tuổi đời ngày tháng thong dong
Tuổi người thắp lại những dòng tâm xa
Mùa theo hạ thoáng xuân qua
Chúc em tuổi mới như là tuổi... hoa

Nguyễn Hoài Nam


Thứ Tư, 30 tháng 12, 2020

Tách Cà Phê Cuối Năm


Chợt hôm bên tách cà phê
Có hình bóng cũ thoáng về quanh đây
Nửa môi đắng vị những ngày
Nửa môi mật ngọt đong đầy nhớ thương

Hương xưa tỏa những con đường
Bên lề phố cạn phủ hàng me bay
Gió nghiêng hôn sợi tóc dài
Tay nghiêng trĩu nặng bờ vai nghìn trùng

Chạnh lòng mắt bỗng rưng rưng
Thương cây lá trụi thương rừng bơ vơ
Thương con chim nhỏ tình cờ
Về đây hát khúc "ầu ơ..." rất buồn!

Ngụm cà phê chút dư hương
Có người chắc cũng môi thường nhắc tên?
Hay là năm tháng đã quên
Có gì để nhớ những phiền muộn qua?

Như mùa rồi cũng trôi xa...

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam

 

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2020

Trời Hành Cơn Lụt Mỗi Năm

1.

                     "Quê hương em nghèo lắm ai ơi,
                     "mùa đông thiếu áo hè thì thiếu ăn
                     "Trời rằng,
                     "trời hành cơn lụt mỗi năm à ơi,
                     "khiến đau thương thấm tràn,
                     "lấp Thuận An để lan biển khơi,
                     "ơi hò ơi hò. (Tiếng Sông Hương - Phạm Đình Chương)

    Năm 1963, đơn vị cha tôi chuyển ra Quảng Ngãi yễm trợ cho sư đoàn 25 bộ binh. Thế là bốn mẹ con cũng thu tóm khăn gói lên đường theo ông. Khu gia binh thuộc tiểu khu đã chật kín, mấy mẹ con đành phải mướn tạm căn nhà gần cuối đường Quang Trung, hướng phía sông Trà Khúc. Hơn nữa sống bên ngoài mẹ tôi còn có cơ may buôn bán nhỏ, đồng ra đồng vào nuôi con. Dựa vào đồng lương cha tôi, chưa hết tháng là bốn mẹ con đã cạn tiền, hết gạo. Hơn nữa cuộc chiến tranh càng ngày càng leo thang khốc liệt, tiếng đạn pháo vọng về, ánh lửa hỏa châu đêm nào cũng "đì đùng" nổ và soi sáng cả khoảng trước sân nhà... Những năm tháng đó, mẹ tôi mới ngoài ba mươi, vẫn còn mặn mòi nhan sắc, buôn bán đắc hàng. Mỗi lần vào tiểu đoàn nhận lương chồng hay đồ quân tiếp vụ hằng tháng, mẹ đều được người chở về tận nhà bằng xe "dzíp" của quân đội! Dãy nhà bốn căn, liền vách có sân trước rộng rãi đủ cho bà xuống ghế kê kệ bán đồ tạp và chè cháo. Năm đó tôi vào học lớp nhì trường nam tiểu học Quảng Ngãi. Lúc đầu tôi không nghe được nhiều lời dạy của cô giáo cũng như mấy đứa trẻ cùng khu nhà ở. Dần dà "nghe miệt" rồi cũng quen. Hơn hai năm ở miền trung là cả hai năm tôi đều chứng kiến bao cảnh lũ lụt hằng năm. Nước ngập rất cao, cả khu nhà mướn phải thu dọn, tản cư vào các liều do sư đoàn dựng tạm, cứu trợ ở sân vận động thị xã. Cuối năm 1965, cha tôi được chuyển về sân bay Biên Hòa, thuộc căn cứ Long Thành. Gia đình lại cuốn gói giả từ miền trung, giả từ xứ Quảng để trở về miền sông nước. Sau lần đó, mẹ tôi quyết định không tiếp tục dắt con theo chồng nữa, mà về định cư hẳn quê nội, làng Bình Hòa Phước, huyện Chợ Lách, Vĩnh Long.

2.

     Vào khoảng cuối tháng 9, 2020 vừa qua, bắt đầu bằng cơn bão số 5 rồi số 6, 7... đến số 13 (bão Vamco) liên tục đổ bộ, càn quét gây lũ lụt nặng nề các tỉnh miền trung Việt Nam từ Phú Yên đến tận Nghệ An, Hà Tĩnh. Những hình ảnh ghi nhận được trên các mạng xã hội, kênh YouTube và cơ quan truyền thông trong và ngoài nước: những cảnh tượng thương tâm của đồng bào, những thiệt hại nặng nề về con người và tài vật vùng tâm lũ (theo tin của CNN đến sáng ngày 18 tháng 11 đã có 160 chết và con số sẽ gia tăng trong những ngày tới). Tôi gửi điện thư và chuyển một số tiền nhỏ cho Hòa, cậu em rễ bác sĩ khoa máu tại bệnh viện Từ Dũ. Tùy Hòa sẽ đóng góp vào tổ chức từ thiện cứu trợ đồng bào miền trung. Hòa cho hay hội y sĩ thành phố đang quyên góp và vận động các y bác sĩ tình nguyện ra giúp đở, cứu trợ về mặt y tế. Sau các cơn bão lũ ngoài thực phẩm thì bệnh tật, truyền nhiễm sẽ là vấn đề nghiêm trọng rất lớn cho người dân ở các tỉnh vùng đó. Số tiền quyên góp được sẽ chi một phần nhỏ cho thực phẩm nhu yếu và phần lớn còn lại sẽ là thuốc men, dụng cụ y tế để khám bệnh, chăm sóc nhằm ngăn chận các nguồn dịch bệnh phát sinh sau lũ. Tôi tán thành và hứa sẽ ủng hộ hết lòng.


     

    Công cuộc quyên góp cứu trợ đồng bào lũ lụt miền Trung được phát động mạnh mẽ trong đoàn thể quần chúng, các tổ chức tôn giáo, các cá nhân nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ cả trong và ngoài nước... Và liên tục trong vài tuần lễ đầu của việc thiện nguyện trực tiếp giúp đở đến người dân vùng lũ, gây nhiều sự quan tâm, chú ý là nữ ca sĩ Thủy Tiên. Qua các trang mạng xã hội, báo chí truyền thông, kênh YouTube,... ca sĩ Thủy Tiên đã quyên góp được số tiền lớn (lên đến 150 tỷ tiền VN - khoảng 6.5 triệu US) và trực tiếp trao đến tận tay người dân trong vùng lũ lụt. 

    Được biết ca sĩ Thủy Tiên là người Rạch Giá và có chồng là cầu thủ bóng đá nổi tiếng Công Vinh của đội tuyển Việt Nam. Đây cũng chính là điều gây cho tôi sự quan tâm, chú ý đặc biệt. Trước đó tôi chỉ nghe loáng thoáng tên và hầu như không biết nhiều đến cô. Tôi tìm và xem hầu hết những đoạn video đoàn thiện nguyện của Thủy Tiên qua kênh YouTube. Hình ảnh người ca sĩ cao ráo, xinh đẹp xăn quần lội nước vào tận những thôn làng xa xôi ngập lụt và tận tay trao từng thùng mì, từng bọc nhu yếu phẩm, từng tờ giấy bạc đến đồng bào vùng lũ thật đẹp, thật cảm động... Thôi thì cũng "chút thơm" lây, rằng tôi cũng từng dạy học và sinh sống ở tỉnh Rạch Giá dù chỉ qua thời gian ngắn. Lại là ca sĩ, tôi vào nghe Thủy Tiên hát một số ca khúc như Phố Đêm (Tâm Anh), Trộm Nhìn Nhau (Trầm Tử Thiêng), Đêm Gành Hào Nghe Điệu Hoài Lang (Vũ Đức Sao Biển),... Giọng hát cô cũng không tệ, xúc cảm chừng mực vừa đủ và làm tròn trịa bài hát. Nhưng để gây ấn tượng, nghe để nhớ thì tôi chưa tìm thấy được trong giọng hát này. Bây giờ ca sĩ trẻ trong nước mọc lên như nấm, không biết hết mặt hết tên, hát được như Thủy Tiên cũng đáng trân trọng. Hai điều kiện không thể thiếu để trở thành ca sĩ "sao" là thanh và sắc. Hầu như phần đông ca sĩ hiện nay dựa vào thế mạnh thế 2 nhiều hơn: "sắc". Mà sắc thì với khoa học thẩm mỹ hiện đại, mua cũng không khó gì. Còn thanh thì phải có, phải khổ công học hỏi và dày công luyện tập chứ không thể mua được. 
    Niềm vui đang dâng trào thì "lùm xùm" trên các báo chí truyền thông trong nước về ý kiến của Mặt Trận Tổ Quốc (MTTQ - bà Trương thị Ngọc Ánh), Hội Chữ Thập Đỏ và nghị quyết 64 của nhà nước Việt Nam về nguồn tiền cứu trợ của cá nhân quyên góp. Tôi không biết nghị quyết 64 nói gì, nhưng khi các cơn bão lụt gây bao cảnh tan thương, đói khổ cho người dân thì không thấy MTTQ, Hôi Chữ Thập Đỏ mặt mũi ra sao? Nhưng khi ca sĩ Thủy Tiên dầm mình vào vùng bão lũ cứu trợ đồng bào với số tiền quyên góp đến 150 tỷ, thì các tổ chức chính quyền lên tiếng "góp ý". Cho dù thế nào, mong rằng mọi nguồn lực từ thiện dù phát xuất từ đâu miễn đến tận tay đồng bào nạn nhân vùng bão lũ là đủ, là thể hiện tâm nguyện của người đóng góp. 
    Có điều làm cho tôi có chút "bất mãn" khi nhìn thấy bức ảnh của ông Lê Tấn Bản, giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN-PTNT) tỉnh Khánh Hòa, đi thị sát tình hình chống bão số 12 mà như đi du lịch, có cả người che dù (báo Lao Động). Nếu đem bức ảnh này để bên cạnh ca sĩ Thủy Tiên đi cứu trợ đồng bào lũ lụt miền trung thì thật là "phản cảm", khó lòng tin tưởng vào thái độ quan liêu của các lãnh đạo và các tổ chức chính quyền nhà nước.

3.

    Không phải chỉ riêng mấy tỉnh miền trung bị lũ lụt, mà nhiều tỉnh thành miền nam và tây nam bộ cũng ngập lụt cùng khắp. Từ thành phố Sài Gòn đến Long An, Vĩnh Long, Cần Thơ,... các đường phố trong tỉnh cũng biến thành những khúc sông nhỏ. Tình hình ngập mặn của các tỉnh dọc theo ven biển cũng lên đến mức báo động. Các nhà vườn ở Gò Công, Bến Tre,... phải mua nước ngọt để tưới cây mong bão vệ được nguồn thu nhập, sinh sống hằng năm của gia đình. Nguồn tin trên các báo chí truyền thông trong và ngoài nước đề cập đến hai nguyên nhân chính cho vấn đề: việc xây đập thủy điện và nạn đốn rừng bừa bãi trong nhiều năm vừa qua. 

    Nhiều ý kiến trái chiều tranh cãi về việc xây các đập thủy điện ảnh hưởng đến nạn gây ngập lụt. Có luồng ý kiến cho rằng các công trình đập thủy điện giúp ngăn chận ngập lụt vì có thể điều khiển được nguồn nước xả từ thượng nguồn. Trái lại có ý kiến cho rằng vì lượng chứa của hồ thủy điện không đủ sức chứa nên thường xả nguồn nước tránh vỡ đập đã gây nạn lũ lụt trầm trọng dưới hạ nguồn. Cuộc tranh cãi vẫn chưa đưa đến kết luận cụ thể cho những ảnh hưởng việc ngập lụt hiện nay trên diện rộng của cả nước. Nhưng có điều được mọi người quan tâm và đồng ý là vấn nạn tàn phá, đốn rừng bừa bãi đã gây nên gập lụt nghiêm trọng trên toàn quốc.
Để xây các công trình đập thủy cũng phải đốn cây, phá rừng. Để xây các biệt thự, biệt phủ với nội thất toàn gỗ quý cũng phải đốn cây, phá rừng. Để thiết kế nội thất toàn bằng gỗ quý cũng phải đốn cây, phá rừng... Những căn nhà rộng bao la của các đại gia, quan chức và cả cơ quan nhà nước, chùa chiền cũng xài toàn đồ gỗ quý. Chừng như xài gỗ quý để xây nhà, trang trí nội thất, ngày nay trong nước mới thể hiện được đẳng cấp giàu sang, quyền thế và giới quý tộc của mình.

    Rừng là lá chắn, là sức hút và giữ lượng nước giúp chống lại những thiên tai bão lũ gây ra cho con người. Chuẫn bị kế hoạch phòng chống hằng năm là điều cần phải thực hiện của các cấp chính quyền địa phương và trung ương. Không phải đợi "nước đến chân" mới la hoảng, tìm cách đổ lỗi cho nhau và cho "ông trời"! 
    Trong suốt hai cuộc chiến tranh vừa qua, rừng Việt Nam vẫn ngút ngàn và tươi xanh dù hứng chịu biết bao nhiêu tấn bom đạn. Thế nhưng sau hòa bình, rừng càng lúc càng trơ trụi, cạn kiệt vì sự tàn phá và khai thác bừa bãi của con người. Hết đốn rừng làm chất đốt đến phá rừng mở nông trại, rồi hàng loạt đập thuỷ điện ra đời và thêm những căn biệt thư, biệt phủ được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ quý hiếm... Các cơn bão lũ là thiên tai, nhưng sự tàn phá thảm khốc cùng khắp đất nước là nhân tai, là do chính bàn tay con người tiêu hủy môi trường sống thiên nhiên không thương tiếc. Đồng lõa với những hành động tiêu hủy môi sinh là tội ác. Hình ảnh nói lên tất cả sự thật thay cho những lời biện minh, hãy nhìn vào hai bức không ảnh của rừng Việt Nam trên diện tích cả nước:

     Trước 1975                                                                Hiện nay

Mùa lũ năm 2020,
Nguyễn Hoài Nam


Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2020

Dạ Cổ Hoài Lang


                                            Nhạc sĩ Cao Văn Lầu

               "Dưới trăng, dòng sông trôi rất dịu dàng
               "Như dải lụa vàng xuôi về phương Đông
               "Gành Hào ơi
               "Nửa đêm ai hát lên câu hoài lang
               "Vầng trăng nghiêng xuống trên vạt rừng tràm
               "Xề u xế u liu phạn
               "Dây tơ đàn kìm buông thiết tha
               "Xề u xề u liu phạn
               "Đưa cung đàn về trên bến xa...

               https://www.youtube.com/watch?v=7eYe28XcaWE
  
    "Đêm Gành Hào Nghe Điệu Hoài Lang" là ca khúc nổi tiếng của cố nhac sĩ Vũ Đức Sao Biển (1947 - 2020) mang đậm nét âm hưởng của dân ca Nam bộ. Bài hát như ghi lại những cảm xúc dạt dào của tác giả khi tình cờ nghe được khúc Dạ Cổ Hoài Lang trong đêm trên dòng sông Gành Hào, Bạc Liêu. 

    “Trong cổ nhạc Việt Nam, chưa có bài bản nào được như Dạ Cổ Hoài Lang biến thành vọng cổ. Từ một sáng tác cá nhân đã biến thành sáng tác tập thể, sanh từ đầu thể kỷ, lớn lên sống mạnh, biến hóa thiên hình vạn trạng và sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt khắp năm châu bốn bể” (Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê).

    Quả thật vậy, Dạ Cổ Hoài Lang là tiền đề cho bao đoạn vọng cổ đã đi vào lòng người trong các tuyệt tác cải lương, tuồng cổ. Hầu hết những cuộc tham gia biểu diễn nghệ thuật của Việt Nam trên toàn thế giới, Dạ Cổ Hoài Lang là tác phẩm tiêu biểu luôn có mặt và chiếm trọn tình cảm khán thính giả khắp nơi. Tác giả của tác phẩm bất hủ "Dạ Cổ Hoài Lang” đó chính là nhạc sĩ Cao Văn Lầu.


    Cao Văn Lầu sinh ngày 22 tháng 12, năm 1890 tại xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ tỉnh Long An trong một gia đình nghèo. Cha ông là Cao Văn Giỏi, có 6 người con. Cao Văn Lầu là người con thứ năm trong gia đình nên thường gọi là Sáu Lầu. Năm lên 6 tuổi, cha ông đã đưa ông và gia đình xuống ghe thuyền để đi tìm nơi sinh sống. Ban đầu gia đình ông đến Gia Hội (Bạc Liêu) làm ăn sinh sống nhưng không trụ được ở đây, 9 tháng sau gia đình ông dời sang Xà Phiên (nay thuộc Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang), khẩn hoang làm ruộng. 
    Sau hơn 1 năm, gia đình ông đã khai hoang được 40 công đất, nhưng bị địa chủ chiếm lấy. Sau đó, gia đình ông chuyển về Họng Chàng Bè (Giá Rai, Bạc Liêu) khẩn hoang, nhưng cuối cùng đất cũng bị chiếm mất. Gia đình ông may mắn được nhà sư dạy chữ Nho thương tình cho cất một căn chòi lá ở trên đất công điền gần chùa Vĩnh Phước An (nay thuộc phường 2, thị xã Bạc Liêu). Năm 8 tuổi, Cao Văn Lầu được Hòa thượng Minh Bảo (trụ trì chùa Vĩnh Phước An) đón lên chùa. Từ đó, Cao văn Lầu vừa được học kinh phật, vừa được nhà sư dạy chữ Nho.
Năm 1903, ông Cao Văn Giỏi đến xin trụ trì cho Cao Văn Lầu về học chữ Quốc Ngữ. Nhưng ông chỉ học đến lớp nhì năm thứ hai thì phải nghỉ học vì gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Năm 1907, người cha già yếu nên Cao Văn Lầu phải gánh trách nhiệm chăm lo cho gia đình. Năm 1908, nghe làng bên có một ông thầy đàn giỏi nhưng bị mù và có tật ở chân, đó chính là ông Nhạc Khị. Cao Văn Lầu liền nhờ cha đưa sang xin học đàn. Vì yêu thích âm nhạc và có năng khiếu nên Cao Văn Lầu tiếp thu rất nhanh, ông nhanh chóng thông thạo các loại nhạc cụ như đàn tranh, cò, kìm, trống lễ; và trở thành một nhạc sĩ nồng cốt trong ban cổ nhạc của ông Nhạc Khị. Năm 1912, ông bắt đầu đi hát, làm nhạc công trong gánh hát cải lương của Ba Xú (Bạc Liêu). 

    Năm 23 tuổi, ông kết hôn với Trần Thị Tấn, một cô gái nết na ở điền Tư Ô (Chung Bá Khánh). Nhưng chung sống với nhau 3 năm mà vợ ông chưa có dấu hiệu thai nghén. Theo tục lệ ngày xưa “tam niên vô tử bất thành thê”, ông phải trả vợ về bên nhà cha mẹ vợ. Từ khi vợ chồng chia cắt, ông lúc nào cũng nhớ thương vợ, có khi ông còn trốn cha mẹ để ghé thăm vợ. Trong thời gian vợ chồng chia cách, chàng nhạc sĩ Sáu Lầu tâm tư nặng trĩu u sầu, đêm đêm nhớ vợ mượn tiếng đàn câu hát cho bớt muộn phiền. Bản “Dạ Cổ Hoài Lang” ra đời trong bối cảnh như vậy. Rất nhiều nghi vấn, tại sao lại là “Dạ Cổ Hoài Lang” (đêm nghe tiếng trống nhớ chồng) mà không là “Dạ Cổ Hoài Nương” (đêm nghe tiếng trống nhớ vợ) mới thật sự đúng với hoàn cảnh? Nhạc sĩ Cao Văn Lầu tâm sự, nếu như ông nhớ vợ một thì người vợ sẽ nhớ chồng đến 10 lần hơn. Chính vì lẽ đó, ông dùng hình ảnh và tâm trạng của người vợ nhớ thương chồng cho tác phẩm của mình. Nỗi bi ai trong tác phẩm ngay cả đất trời cũng cảm thương, nên sau này vợ ông có thai và lần lượt sinh cho ông 7 người con (5 trai, 2 gái). Vợ chồng ông lại được đoàn tụ bên nhau.


   Hình chụp thẻ căn cước của ông Cao Văn Lầu thời Việt Nam Cộng Hòa

    Dạ Cổ Hoài Lang khởi điểm từ nhịp 2. Nhưng khi hòa nhập vào sân khấu cải lương, bản được chuyển dần thành nhiều nhịp. Năm 1924, tăng lên nhịp bốn. Từ khoảng 1934 đến 1944, tăng lên nhịp tám. Từ khoảng 1944 đến 1954, vọng cổ tăng lên nhịp 16. Từ 1955 đến 1964, tăng lên nhịp 32 rồi nhịp 64 từ năm 1965 đến nay. Dạ Cổ Hoài Lang của nhac sĩ Cao Văn Lầu đóng góp rất lớn cho phong trào đờn ca tài tử phát triển rộng khắp miền tây nam bộ. Năm 2013 tổ chức UNESCO chính thức vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.


                                   Sinh hoạt đờn ca tài tử Nam Bộ


 Lời ca gốc của Dạ Cổ Hoài Lang:

    1. Từ từ phu tướng.
    2. Báu kiếm sắc phán lên đàng.
    3. Vào ra luống trông thơ nhạn.
    4. Năm canh mơ màng.
    5. Trông tin chàng.
    6. Gan vàng càng lại thêm đau.
    7. Lòng dầu say ong bướm.
    8. Xin cũng đừng phụ nghĩa tào khang.
    9. Đêm luống trông tin bạn.
    10. Ngày mõi mòn như đá vọng phu.
    11. Vọng phu vọng luống trông tin chàng.
    12. Xin đó chớ phụ phàng.
    13. Chàng chàng có hay.
    14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây.
    15. Bao thuở đó đây sum vầy.
    16. Duyên sắc cầm tình thương với nhau.
    17. Nguyện cho chàng.
    18. Đặng chữ bình an.
    19. Trở lại gia đàng.
    20. Cho én nhạn hiệp đôi với đó đây.

Ký âm cổ nhạc:
(theo loại đàn dây Bắc)

    1. Hò lìu xang xê cống
    2. Líu cống líu cống xê xang
    3. Xừ xang xê hò líu cống xê xang hò
    4. Liu xế xang xự xề xang lìu hò
    5. Xừ liu xáng ũ liu cống xề
    6. Liu xáng xàng xề liu xề xáng ú liu
    7. Hò lìu xang xang xế cống
    8. Xê xê líu xừ, líu lĩu xừ xang
    9. Xừ xang xế, líu xê xang xư’'
    10. Xê líu xừ, líu lĩu xừ xang
    11. Xừ, xê líu xừ, líu cống xê, líu hò
    12. Liu xề xang xự cống xê xang lìu hò
    13. Xừ xang xừ cống xế
    14. Xê líu xừ, líu lĩu xừ xang
    15. Xừ xang xề hò líu cống xế xang hò
    16. Lưu xáng xàng, xề liu xề xáng ú liu
    17. Hò xự cống xê xang hò
    18. Xê líu xừ, líu lĩu xừ xang
    19. Xừ xang xế, hò líu cống xê xang hò
    20. Liu xáng xàng xề liu xề xáng ú liu

Do tính quần chúng rộng lớn, Dạ Cổ Hoài Lang có nhiều dị bản nhưng luôn giữ được nội dung và âm điệu chính. Dưới đây là một dị bản tiêu biểu được mọi người biết đến nhiều nhất hiện tại:

    1. Từ từ phu tướng.
    2. Bảo kiếm sắc phong lên đàng.
    3. Vào ra luống trông tin nhạn.
    4. Năm canh mơ màng.
    5. Em luống trông tin chàng.
    6. Cho gan vàng quặng đau í i.
    7. Đường dù xa ong bướm.
    8. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.
    9. Đêm luống trông tin bạn.
    10. Ngày mõi mòn như đá vọng phu.
    11. Vọng phu vọng luống trông tin chàng.
    12. Sao nở phụ phàng.
    13. Chàng chàng có hay.
    14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây.
    15. Biết bao thuở đó đây sum vầy.
    16. Duyên sắc cầm nhạt phai í i.
    17. Thiếp nguyện cho chàng.
    18. Nguyện cho chàng đặng chữ bình an.
    19. Mau trở lại gia đàng.
    20. Cho én nhạn hiệp đôi í i.


    Trong sự nghiệp của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, ông sáng tác rất ít. "Dạ Cổ Hoài Lang" chính là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và được lan truyền cùng khắp mọi miền đất nước. Vì vậy “Dạ Cổ Hoài Lang” đã không dừng lại ở nguyên dạng như các bản nhạc cổ khác mà dần dần biến đổi hình thức, phát triển thành bản vọng cổ, làm thay đổi một phần lớn bộ mặt cải lương Nam Bộ. Ngoài tác phẩm "Dạ Cổ Hoài Lang", nhạc sĩ Cao Văn Lầu còn sáng tác thêm 10 tác phẩm khác nhưng chủ yếu chỉ lưu truyền ở Bạc  Liêu. 


                 Khu lưu niệm của nhạc sĩ Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu


    Nhạc sĩ Cao Văn Lầu mất lúc 13 giờ ngày 13 tháng 8 năm 1976 tại thành phố Sài Gòn, thọ 86 tuổi.


Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam


Thứ Tư, 4 tháng 11, 2020

Sợi Tóc Màu Trăm Năm

Thoáng đó mà mặt đời đã phẳng
Dung nhan soi lại chiếc gương buồn
Ánh mắt bâng khuâng chừng trĩu nặng
Còn gì sau khung cửa thời gian?

Em đếm bàn tay hoài năm ngón
Ngón gần theo đường chỉ chia ngang
May mắn ta hẹn nhau lần nữa
Kiếp này thôi nợ những gian nan!

Như sợi tóc mai ngày mới gặp
Nói rằng sẽ buột chặc đời nhau
Rồi em buông sợi lơi trong gió
Mấy ngả đời tóc hởi, về đâu?
*** ***
Hôm qua nhận được thư người gửi
Sợi tóc ngày xưa dáng lụa trầm
Hương của một thời em vẫn giữ
Một thời tóc sợi màu trăm năm...

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2020

Gió Những Mùa Sau


1.

    Buổi sáng vừa ra cửa đi làm, chợt nghe thoáng lạnh, tôi vội quay vào khoắc chiếc áo choàng loại nhẹ. Trời lại bắt đầu vào thu. Thoáng chốc, trôi nhanh “trăm năm là mấy, một ngày dài ghê”. Những chiếc lá khô vàng đã bắt đầu rụng rải rác phía sau nhà.Thời gian chợt như trêu ghẹo, đùa cợt với chúng ta. Nhiều lúc soi gương, tôi cứ tưởng mình đang nhìn một người khác. Một tôi phía bên ngoài đang nhìn chăm chăm một tôi bên trong mặt gương soi thật xa lạ với thời gian. Con người của hôm qua chưa kịp nhận diện con người của hôm nay..? Trên con đường đến chỗ làm, chạy thẳng, quẹo trái quẹo phải, tất cả đều là những phản ứng tự nhiên của thói quen (đôi lúc không cần đến cả ý thức). Chừng như tuổi càng cao chúng ta càng có nhiều thói quen và chi phối bởi thói quen, từ thể chất đến tinh thần. Mọi sai lệch trong sinh hoạt hằng ngày đều khiến chúng ta dễ bực dọc, khó chịu và ngay cả tức giận, nhiều khi rất vô lý. Khả năng thích nghi với hoàn cảnh chung quanh đã không còn nhiều… Tôi cho đèn hiệu quẹo vào tiệm thức ăn nhanh phổ biến của cả nước Mỹ “McDonald’s”, như một thói quen! Và cũng như mọi khi, tôi gọi một biscuit với trứng, thịt bằm và phô-mát qua cửa sổ mà không phải ra khỏi xe. Đây là món ăn sáng “gần gũi” nhất của tôi nhiều năm nay. Cà phê và nước uống thì chỗ làm tôi lúc nào cũng có sẵn, “miễn phí” cho nhân viên ngày lẫn đêm. Bà xã thường gọi tôi là “hai lúa” vì thói quen ăn uống của mình: ngày ba cữ, sáng trưa chiều, không hề biết ăn vặt và không thể sống thiếu cơm! Những lần đi công tác xa, nếu may tìm thấy được quán phở của người Việt mình, mỗi chiều ăn phở tôi đều gọi thêm một chén cơm trắng. Bà chủ tiệm thấy vậy hỏi tôi, phở không đủ ăn hay sao ông phải kêu thêm cơm? Tôi cười lắc đầu, không phải phở ít mà tôi thèm cơm! Mà thật vậy, ăn phở bao giờ tôi cũng kết thúc bằng một chén cơm trộn phở, ngon đến muỗng cuối cùng. 

2. 

    Nghĩ ngợi lan man tôi chợt nhìn thấy bên lề đường, dọc theo một góc phố ba mẹ con người da trắng đang ngồi cầm hai tấm bảng viết tay nguệch ngoặc. Hình như đứa nhỏ nhất vẫn còn ẵm trên tay. Trời đang vào thu, gió trở mùa và se sắt lạnh. Tôi cho xe chạy chậm lại, sát hơn vào lề đường. Đó là hình ảnh một người phụ nữ da trắng trẻ ngồi bệt dưới vỉa hè với đứa con trai chừng 4, 5 tuổi và một cháu bé trong lòng. “Vô Gia Cư – Xin vui lòng giúp đỡ”, bằng mực màu viết trên hai miếng bìa cứng xé ra từ chiếc thùng giấy. Đây cũng không phải lần đầu hay 


hình ảnh xa lạ gì nơi thành phố tôi đang ở. Nhưng thường thấy là người lớn và không có con nít mang theo. Nhìn kỷ cả ba mẹ con đều xinh đẹp, dễ thương. Chưa kịp phản ứng gì, thì tôi bắt gặp nụ cười thật vô tư, hồn nhiên của cháu trai nhỏ. Chừng như cậu bé chưa nhận thức được hết những gì đang xảy ra cho ba mẹ con. Hoặc cậu bé đã quá quen thuộc với hoàn cảnh lang thang “không nhà cửa” này. Buổi sáng trong giờ cao điểm, xe cộ tấp nập từ mọi phía của đường phố. Không thể gây phiền phức, cản trở giao thông tôi móc vội phần tiền còn lại trong túi và phần bánh biscuit vừa mua vẫn còn nóng. Tôi bấm đèn hiệu dừng xe “khẩn cấp” và ra dấu cho ba mẹ con ra nhận. Đứa bé trai buông tấm bảng giấy, cười tươi chạy về phía tôi. Đôi mắt mệt mỏi, mất ngủ của người phụ nữ da trắng thoáng lên chút hân hoan rồi chìm vào ánh nhìn xa xăm, tĩnh lặng. “Thank you…”, tiếng cảm ơn trong trẻo của cậu bé chạm đáy lòng một buổi sáng đầu thu. Chiếc xe tôi trờ vội đi, để lại phía sau góc phố hình ảnh của ba mẹ con người da trắng không nhà, đang chờ những tấm lòng thương cảm. Cho dù số phận con người thế nào, ra sao đi nữa, cuộc sống vẫn mãi trôi qua giữa lòng đời và lòng người không dứt… Giấc mơ bao giờ cũng ngắt khoảng, lẫn lộn. Có khi nằm trong tiềm thức hay trong ký ức của chúng ta một lần thoáng hiện. Hoặc đôi khi hoàn toàn xa lạ mà người mơ thấy, tưởng như không hề có thật. Đất nước Mỹ, phải chăng là giấc mơ của biết nhiêu con người trên mặt địa cầu? Nhưng đôi khi các bạn biết không, giấc mơ chỉ hiện hữu trong giấc ngủ lúc nhắm nghiền đôi mắt và bước ra khỏi cuộc sống đời thường. 

   Tôi tin rằng sẽ không có bất cứ đất nước nào trên cõi đời này sẽ đem lại giấc mơ cho chúng ta, nếu chúng ta không mang nó theo sẵn trong lòng. Hình ảnh ba mẹ con người da trắng chừng như nhắc nhở tôi, thiên đường nào cũng có sự may mắn và nỗi bất hạnh gần bên. Ánh mắt hồn nhiên của cậu bé “vô gia cư” da trắng chỉ khiến tôi thoáng chút thương cảm tình người. Thế thôi. Nhưng ánh mắt thơ ngây ấy lại xô đẩy tôi về với một xót xa khác, một hình ảnh trong tận cùng ký ức của trái tim. 

3. 

    Buổi chiều trên bờ biển Phú Quốc thật yên bình và thật đẹp. Xa xa là Dinh Cậu nằm trên một doi đá cơi ra phía ngoài khơi. Mặt trời như trái banh lửa khổng lồ đang lăn và chìm dần vào lòng biển xa. Đây là lần đầu tiên tôi viếng thăm hòn đảo ngọc Phú Quốc. Nhiều nơi trên đảo vẫn còn giữ được vẻ đẹp hoang sơ, chưa bị bàn tay con người xâm lấn, cưỡng chiếm. Nhưng xa gần đã bắt đầu có dấu hiệu của sự phát triển thương mại, những khu nghỉ dưỡng và các khách sạn 5 sao đang đẩy thiên nhiên vào bờ vực nguy cơ của ô nhiễm môi trường… Tôi đi dọc theo khu 


“Chợ Đêm Phú Quốc” mà mọi người đang chuẩn bị bày biện, chất hàng cho buổi tối. Những tiếng bàn ghế và mùi bếp lửa cũng bắt đầu vang vọng, tỏa lan. Chỉ vài giờ nữa khu phố chợ thưa thớt này sẽ tấp nập những người và tràn ngập quán ăn đêm. Gió hanh hanh thổi theo hơi biển mặn và mùi cá phơi khô như một đặc sản không gian của quê hương Rạch Giá, từ đất liền đến đảo xa. Mùi vị quê nhà thấm sâu vào mọi giác quan của mỗi người con đất biển. Buổi chiều đang rơi nhè nhẹ theo từng giọt nắng vàng treo lơ lững hai bên mặt đường. Chợt thoang thoảng đâu đây mùi thơm quen thuộc của tuổi thơ tôi. Mùi thơm của sữa. Mùi thơm của sữa đậu nành đây mà! Tôi thấy khát và thèm vô cùng một ly sữa đâu nành nóng! “Trà sữa – Sữa đậu nành – Chè các loại”, trước mặt tôi là chiếc xe che kiếng với vài chiếc bàn nhỏ và tấm bảng ghi bắt mắt. Ngồi xuống ghế, tôi gọi một ly sữa đậu nành nóng. “Bác có bỏ thêm đường hông?”, cô gái bán hàng hỏi. Tôi cười, gật đầu. Ly sữa đậu nành bốc khói, thơm phức. Khuấy vài muỗng thì tôi thấy mấy con kiến đen nổi lên, có lẽ ở trong đường. Thường thì chẳng hề hấn gì, nhưng tôi đang ho mấy hôm nay vì chưa thích nghi lắm với thời tiết chung quanh. Còn đang phân vân thì có tiếng: “Mua dùm con vài tấm vé số đi bác”! Đó là cô bé gái khoảng 11, 12 tuổi cầm trên tay xấp vé số quen thuộc mời mọc. Định cười lắc đầu, “Mua giúp con đi bác. Độc đắc mấy chục tỷ lận, con thấy bác có số may mắn đó”. Dưới chiếc nón rộng vành,khuôn mặt xinh xắn là đôi mắt thơ ngây trong sáng của cô bé (lẽ ra phải đang cùng gia đình ngồi ăn buổi cơm chiều). Ánh mắt cô bé không hiểu sao, có cái gì đó khiến tôi khó xử, khó chối từ. “Bao nhiêu một tấm con”? “Dạ 10 ngàn”. Nhớ ra trong túi tôi chỉ còn chừng ba trăm ngàn, mà lúc nãy tôi quên nhắc bà xã đưa thêm tiền dằn túi. “Bác mua cho con 10 tấm thôi nghen”. “Dạ 100 ngàn, bác lựa đi”. Tôi lấy vội và đưa cô bé tờ giấy 100 ngàn màu xanh. Cất tiền xong, cô bé vẫn còn nhìn tôi ngập ngừng: 

    -“Bác có uống ly đậu nành có mấy con kiến đó hông bác”? Bây giờ tôi mới nhớ ly sữa đậu nành mà tôi đẩy sang một bên, phân vân vì mấy con kiến đen. 

    -“Con muốn uống sữa đậu nành, bác kêu cho con một ly khác”. 

   -“Hổng phải con uống đâu bác… Bỏ mấy con kiến ra, con xin đem dzề cho đứa em nhỏ con uống…”, cô bé vừa nói vừa lấy trong cái túi vải khoắc vai, một chiếc bình bằng nhựa màu xanh. Cử chỉ và lời nói tự nhiên của cô bé làm tôi xúc động vô cùng. Tuổi thơ tôi trong chiến tranh đã “lớn trước tuổi”, đất nước hòa bình phát triển giàu mạnh cũng mang theo những lớp tuổi thơ “già trước tuổi” biết chừng nào! Tôi giúp cô bé vớt bỏ mấy con kiến đen “vô tội vạ” ra khỏi ly sữa đậu nành và gọi thêm một ly nữa mang đi. Tôi đưa cô bé thêm ly mang đi kèm theo tờ giấy 100 ngàn còn lại. 

    -“Má con dặn hổng được lấy tiền người lạ. Con lấy sữa đậu nành thôi”, cô bé trả tôi lại tờ giấy bạc. Hơi bất ngờ, nhưng tôi cũng vội kiềm chế cảm xúc: “Hay con lựa cho bác thêm 10 tờ vé số nữa đi…”. Cô bé đếm vé số cho tôi và cất giữ lại tờ giấy bạc 100 ngàn. 

    -“Con ngoan lắm. Ba má con đâu, mà con phải đi bán vé số”? 

    -“Má con bệnh… Con hổng có ba…”, cô bé trả lời nhỏ giọng, đượm buồn. 

Tôi nghèn nghẹn ở cổ, không dám hỏi hay nói lời gì thêm, lặng nhìn cô bé bán vé số với chiếc túi đựng hai ly sữa đậu nành bước đi vào giữa những sợi nắng vàng vọt, mong manh của buổi chiều… Nhiều người “than phiền” người Việt không có thói quen nói tiếng “cám ơn”! Nhưng trong giây phút nầy, mọi tiếng cám ơn chừng như đều “thừa thải”, đải bôi và vô nghĩa như nhau. Ánh mắt, tấm lòng của cô bé bán vé số ở khu chợ Phú Quốc là cả môt tấm gương soi cho những kiếp đời này. Chợt đâu đó có tiếng hát phát ra từ chiếc loa của một hàng quán bên đường: “Cuộc đời vẫn đẹp sao / Tình yêu vẫn đẹp sao…”, nghe thật bùi ngùi, mai mỉa. Khu chợ bắt đầu nhộn nhịp tiếng người như xô dạt bóng dáng cô bé trong từng cơn gió mùa biển mặn. 

4. 

    Trên đường về buổi chiều hôm đó, tôi không còn nhìn thấy ba mẹ con người phụ nữ da trắng nữa. Rồi những ngày sau cũng không. Góc lề đường nhỏ trở lại bình thường như không hề có chuyện gì xảy ra. Chắc họ đã về một nơi nào đó, một khu tạm trú dành cho những người vô gia cư? Gió đầu thu cũng bắt đầu trở lạnh, kéo theo ngày “tháng Mười chưa cười đã tối”. Hình ảnh ba mẹ con vô gia cư người da trắng khiến tôi nhớ vô cùng cô bé bán vé số và ly sữa đậu nành ở khu chợ đêm Phú Quốc năm nào. Cũng 8 năm rồi, cô bé ngày nay chắc đã trở thành một thiếu nữ 19, 20 xinh đẹp? Cô thiếu nữ ấy bây giờ ra sao, hay vẫn còn giúp mẹ nuôi em bằng những tờ vé số cầm tay? Mong rằng không phải vậy. Mong rằng những may mắn sẽ đáp xuống cuộc đời cô bé để ánh mắt thơ ngây thoát khỏi bao nét nhọc nhằn, bất hạnh. Mong rằng cô bé sẽ quên tôi và ly sữa đậu nành, như quên đi những ký ức buồn trong mênh mông dòng đời nghiệt ngã trôi xa? 

    Bên ngoài trời đang mùa gió trở. Gió vào thu heo hắt lạnh mặt người. Gió mùa này sẽ thổi về đâu, cho mùa sau nối tiếp? Cô bé ơi, xin hãy đi trọn kiếp người với một tấm lòng trong sáng cưu mang, như những cơn gió mùa thơm ngát của hôm qua… 

        “… Em ở nơi nào, có còn mùa xuân không em? 
        “Rừng ngàn lá gió, từng đêm nhắc nhở, thì thầm 
        “Mai lỡ không về, chắc anh buồn biết mấy 
        “Dáng nhỏ xuân xưa cũng nhớ đêm ngày… (*) 

Durham, North Carolina 
Nguyễn Hoài Nam 

(*) Nhớ Nhau Hoài – Anh Việt Thu & Thiên Hà



Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2020

Giao Mùa



Tháng mấy mà sao ngày chợt ngắn
Đêm mênh mông trong gió rủ nhau về
Nhốt chút nắng vào lòng tay xứ lạ
Tiếng ve ngừng theo cánh rụng buồn ghê

Vài con đường rất quen trong ký ức
Vài môi cười nheo đuôi mắt ngày xưa
Nay chắc cũng nhăn theo chiều năm tháng
Nhớ thương tàn bong bóng vỡ chiều mưa

Tháng mấy mà heo may chớm lạnh
Một dòng sông trong trí nhớ hao gầy
Con nước còn bịn rịn khóc bàn tay
Qua bến vắng bóng người nghiêng tóc xõa

Em yêu dấu nụ giao mùa hương lá
Vẫn về thơm từng vết cắn môi lành
Nếu biết sẽ đời này không gặp lại
Xin nợ người mây trắng khoảng trời xanh...


Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2020

Lời Hứa 50 Năm



          Những ngày cuối tháng 8 năm 2019, ông Ken Ressing, ở quận Medina, tiểu bang Ohio, Mỹ, vừa bận rộn với việc nhà cửa vừa lo chuẩn bị mọi thứ cho chuyến thăm Việt Nam trong tâm trạng khó tả.

          -"Tôi không ngủ được, cũng không muốn ăn", người đàn ông 71 tuổi chia sẻ về nỗi háo hức, "Thật tuyệt vời! Chỉ ít ngày nữa tôi sẽ có mặt ở Việt Nam để hoàn thành lời hứa của mình?".

          Chuyến đi này sẽ là lần trở lại Việt Nam đầu tiên của ông Ken sau 50 năm kể từ ngày về Mỹ. Nhưng nó còn có một ý nghĩa đặc biệt hơn nữa, bởi đó là chuyến đi để ông thực hiện lời hứa với mối tình đầu của mình với Thúy Lan, rằng sẽ quay lại Việt Nam để gặp bà.


          Tháng 12, 1968 hai năm sau khi nhập ngũ, ông Ken được điều tới Việt Nam làm việc ở trung tâm dịch vụ dữ liệu của quân đội Mỹ đóng tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tối đến, ông thường đi bộ tới quán bar EM Club (Enlisted Men’s Club) trong khuôn viên doanh trại, nơi có phòng trò chơi, quầy nước và một sân khấu nhỏ để thư giãn. Đó là nơi chàng lính Mỹ 22 tuổi đã gặp cô Thúy Lan vào một ngày cận Tết năm 1969 và say mê cô ngay từ cái nhìn đầu tiên.


Hình Thúy Lan khi còn là nhân viên tại EM Club ở Đồng Nai năm 1969.

           Nhắm mắt lại, ông Ken vẫn nhớ rõ ngày ấy như mới hôm qua. "Tôi chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ gì giống như cô ấy. Mái tóc đen dài óng ả, nét mặt với nước da ngăm tuyệt đẹp và một nụ cười quyến rũ nhất mà bạn có thể tưởng tượng được", ông kể.

          Thúy Lan phục vụ đồ uống ở một quầy nhỏ trong góc quán bar và sau khi phát hiện ra cô, ông không thể rời mắt khỏi người con gái này, nhưng luôn cố gắng để không bị cô bắt gặp đang nhìn trộm. Sau đêm ấy, Ken ngồi sát hơn chỗ Lan, dù đây là vị trí cách xa sân khấu và chẳng ai thích ngồi. Từ đó, ông chỉ cần đánh mắt sang trái một chút là thấy cô, với nụ cười luôn nở trên môi. Thỉnh thoảng, Ken ngắm Lan khá lâu và cô cũng nhìn lại rồi cười. Hai người dần dần bắt chuyện và trở thành một đôi bạn.

          Giữa những chàng trai luôn cố gắng thu hút sự chú ý của cô gái người Việt, Ken cảm thấy may mắn khi ông được cô để mắt tới. Tình yêu của họ là những cuộc hẹn hò vào cuối tuần ở gần doanh trại của Ken, sau khi Lan đi nhà thờ hay nấu bữa trưa cùng bạn bè. Ken không thể ra khỏi doanh trại buổi tối và Lan cũng không được phép vào bên trong khu vực quân đội, vì thế họ chỉ tìm cách làm thế nào để ở bên nhau thật nhiều.

          Ken và Lan thậm chí không biết sinh nhật của người kia là ngày nào, gia cảnh ra sao. Đôi khi họ chỉ gặp nhau và chẳng nói gì nhưng vẫn cảm nhận được một thứ cảm xúc ngọt ngào đang tan chảy bên trong mình. Ken cứ nghĩ rằng hai người còn nhiều thời gian để trò chuyện, cho đến khi ông nhận được lệnh rời quân ngũ sớm để quay lại trường đại học.

          "Theo kế hoạch, tôi sẽ rời Việt Nam về Mỹ vào tháng 9 năm 1969, sớm trước thời hạn 3 tháng", ông nói. "Vì Lan mà khi tháng 9 càng cận kề, tôi càng ước mình không phải làm điều đó", ông tiếc nuối.

          Những ngày chủ nhật trôi qua căng thẳng hơn, hai người trở nên kiệm lời và dành thời gian cho những cái ôm. Ken cố gắng quan tâm Lan nhiều hơn và họ đều hy vọng sẽ sớm gặp lại nhau. Có một ngày, Ken đã hỏi bạn gái rằng cô có muốn rời Việt Nam hay không. Cô lắc đầu, đó là lần duy nhất ông hỏi câu này.

          "Tôi nghĩ những cuộc trò chuyện cuối cùng của chúng tôi sẽ khác nếu cô ấy trả lời là 'muốn' ", Ken nói. "Tôi đã nghĩ đến việc sẽ tuyệt vời như thế nào nếu mình cưới cô ấy, nhưng tôi đã không hỏi. Tôi cứ nghĩ rằng sẽ không phải chờ quá lâu để gặp lại nhau".


          Một ngày trước cuộc gặp cuối cùng của đôi tình nhân, Ken đến bưu điện mua một hộp bì thư có dán tem sẵn và đánh số từ 1-50 ở góc trái bên dưới, sau đó cất chúng lại vào hộp. Ông trao nó cho Lan và bảo rằng khi nào cô gửi cho ông lá thư cuối cùng trong số này, đó là lúc ông trên đường trở lại gặp cô.

          "Tôi đã hứa", Ken nói. "Ngày hôm ấy thật đau khổ đối với tôi. Tôi nhớ mình đã ôm cô ấy chặt nhất có thể. Tôi hôn cô ấy, sau đó lại cố ôm cô ấy chặt hơn nữa. Tôi nghe thấy tiếng cô ấy thì thầm vào tai mình bằng tiếng Việt. Đến bây giờ nhắm mắt lại, tôi vẫn có thể nghe thấy những lời thì thầm ấy".

          Khoảnh khắc đó in sâu vào tâm trí của Ken suốt 50 năm qua, dù ông chưa bao giờ hiểu Lan nói gì. Cho tới cách đây vài tháng, Ken mới biết đến công cụ dịch lời nói của Google và kinh ngạc khi biết ngày ấy, cô gái Việt Nam đã thì thầm gì với mình. Tuy nhiên, ông từ chối tiết lộ điều này, vì muốn giữ riêng cho mình mãi mãi.

          Những lá thư trở thành cầu nối duy nhất giữa hai người yêu nhau cách nửa vòng trái đất suốt một năm sau đó. Khi mua 50 bì thư, Ken đã nghĩ rằng Lan sẽ viết thư khoảng một tuần một lần nhưng hóa ra, ngày nào cô cũng viết. Trước khi năm 1969 kết thúc, số bì thư đã không còn cái nào, nhưng Lan vẫn tiếp tục viết.

          Mỗi cuối tuần, từ trường trở về nhà, Ken lại nhận những lá thư được gửi từ phương xa thông qua một người bạn đóng quân ở Việt Nam. "Khoảng thời gian ấy đối với tôi vừa hạnh phúc lại vừa lo lắng", ông nói.


Ken Reesing sau khi trở về Mỹ năm 1969

          Ken đã cân nhắc đến việc tái nhập ngũ nhưng không có gì đảm bảo rằng ông sẽ được quay lại Việt Nam trong bối cảnh quân đội Mỹ đang rục rịch rút quân. Ông muốn kể cho mọi người nghe về Lan nhưng không ai muốn biết gì thêm về Việt Nam nữa. Báo chí Mỹ liên tục đưa tin về cuộc chiến và đều là những thông tin đáng buồn.

           "Không ai muốn tôi trở lại, nhất là cha tôi. Mọi người ở Mỹ phản đối gay gắt cuộc chiến này và họ thù ghét những người lính trở về từ Việt Nam", Ken kể. "Lời hứa với Lan đè nặng lên tâm trí tôi nhưng việc quay trở lại vô cùng khó khăn".

           Khi cuộc chiến tranh dần đi đến hồi kết, quân đội Mỹ vội vã rút khỏi miền nam Việt Nam, căn cứ Long Bình cũng biến mất và hai người không còn liên lạc với nhau nữa. Ken đã gửi vài bức thư trực tiếp tới EM Club nhưng không nhận được phản hồi.

          "Tôi đã thất hứa và việc này gần như khiến trái tim tôi tan nát. Tôi thật ngu ngốc. Không còn cách nào khác cả", Ken nói trong niềm hối hận.

          Từ năm 1973 đến nay, Ken vẫn không ngừng lo lắng về Lan. Ông thực sự không dám nghĩ cô sống sót qua cuộc chiến tranh nhưng luôn giữ chút hy vọng nhỏ nhoi bởi "cô ấy còn trẻ, xinh đẹp, chăm chỉ và đầy sức sống". Ken vẫn cố gắng tìm hỏi thông tin về Lan cho đến sau năm 2000, khi mạng Internet phát triển mạnh, ông mới thực sự đẩy mạnh cuộc tìm kiếm. Ken từng thuê các công ty, trong đó có một công ty quốc tế với chi nhánh tại Sài Gòn, tìm kiếm Lan. Trong quá trình này, Ken cũng vô tình quen một người sống ở Biên Hoà qua mạng và được người này giúp đỡ tìm kiếm Lan suốt hai năm bằng các cuộc điện thoại, thậm chí những chuyến đi tới Long Bình, nhưng không có kết quả.

          Việc tìm kiếm diễn ra trong bí mật bởi Ken không muốn gây ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của Lan. "Tôi chỉ muốn an tâm rằng người bạn gái năm nào vẫn mạnh khỏe và an toàn", ông nói.

          Ken luôn hối hận khi ngày đó đã không hỏi bất cứ thông tin gì để sau này có thể tìm ra Lan dễ dàng hơn, như địa chỉ cụ thể của cô ở Biên Hòa. Ông cũng không rõ họ của cô chính xác là Võ Thị hay Vũ Thị. Một ngày đầu tháng 6, Robert, một người con lai đang sống ở TP HCM, bất ngờ liên lạc với ông Ken qua một nhóm cựu binh Mỹ trên mạng, sau khi biết ông đang tìm kiếm một phụ nữ Việt Nam thất lạc trong chiến tranh. Sau một lúc trò chuyện và tìm hiểu thông tin giữa hai bên, ông Ken đồng ý gửi những bức ảnh của Lan cho Robert. Chỉ hai ngày sau, ông và Lan lần đầu trò chuyện với nhau qua điện thoại.

          "Khi nghe Robert nói rằng cậu ấy đã tìm thấy Lan, tôi không thể tin nổi", ông Ken kể. "Robert đã làm việc ấy quá nhanh và hiệu quả". Robert cho hay để tìm kiếm người phụ nữ tên là Thúy Lan, anh đã đăng thông tin mà ông Ken cung cấp kèm ảnh lên một nhóm người Đồng Nai trên Facebook và nhờ sức lan truyền của mạng xã hội, chỉ trong chưa đầy một ngày, họ đã giúp tìm ra người con gái năm xưa.



Bà Vũ Thị Vinh (Thúy Lan) hiện nay.

           Bà Thúy Lan, tên khai sinh là Vũ Thị Vinh, hiện sống tại căn nhà cấp bốn thuộc con hẻm nhỏ ở đường Phan Đình Phùng, phường Thanh Bình, Biên Hòa, Đồng Nai. Hằng ngày, bà cùng con gái mưu sinh bằng nghề bán cháo trắng.

           Bố mẹ bà sinh 7 người con nên kinh tế khó khăn. Bà chỉ học đến lớp 5 là nghỉ. 15 tuổi, bà vào căn cứ quân sự Long Bình làm tạp vụ. Hai năm sau, bà làm tiếp viên cho EM Club của căn cứ. Ông Ken khi đó 22 tuổi, mới sang Việt Nam nhập ngũ được một thời gian. Những lần đến EM Club chơi, ông để ý cô gái người Việt có mái tóc đen, đôi mắt to, làm việc chăm chỉ và lém lỉnh. ‘Lúc đó, tôi được nhiều người để ý, nhưng tôi chỉ thích ông ấy. Thích, nhưng chúng tôi chỉ ‘liếc nhìn nhau’ khi gặp chứ chưa có gì cả’, người phụ nữ sinh năm 1952 hồi tưởng về quá khứ và cho biết, ông Ken là mối tình đầu của bà.

           Khi Mỹ rút quân khỏi căn cứ Long Bình, ông bà không thể viết thư cho nhau nữa. Mẹ bà Lan mang những lá thư và hình ảnh của ông Ken gửi cho con gái đốt hết. Từ đó, bà không còn nhớ gì về mối tình đầu của mình nữa.

           Năm 1984, bà lấy chồng. Hai năm sau, bà sinh con gái. Vì hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng bà chia tay. ‘Tôi với ông ấy quen rồi về sống chung chứ không làm đám cưới, đăng ký kết hôn’, người mẹ một con nói. Sau đó, bà ở vậy nuôi con bằng nghề bán cháo trắng từ năm 1993 đến nay".

           "Lúc chia sẻ câu chuyện về Lan, tôi đã từ bỏ ý nghĩ rằng cô ấy còn sống và dự định sẽ quay lại Long Bình một mình để hoàn thành lời hứa. Tôi nghĩ mình sẽ về thăm một ngôi mộ", cựu binh Mỹ Ken Reesing nói, "Thế nhưng cô ấy vẫn còn sống và đến bây giờ vẫn giữ nụ cười tuyệt vời ấy".

           Sau tất cả những cung bậc cảm xúc đã trải qua trong đời, Ken muốn mượn lời một bài hát "Loving her was easier than anything I'll ever do again" ...của ca sĩ người Mỹ Kris Kristofferson, bài hát luôn gợi nhắc ông về mối tình 50 năm trước. "Yêu Lan dễ dàng hơn bất cứ điều gì tôi từng làm", ông Ken nói.


 Ông Ken và bà Lan tại sân bay Tân Sơn Nhất, Việt Nam ngày 12/9 sau 50 năm xa cách.

Năm mươi năm dẫu muộn màng, nhưng ông vẫn giữ lời hứa cho cuộc hội ngộ với người xưa tại sân bay Tân Sơn Nhất, Việt Nam ngày 12 tháng 9, 2019: như thể họ chưa hề có cuộc chia ly!

Durham, North Carolina
Nguyễn Hoài Nam