Thứ Hai, 31 tháng 7, 2017

Nước Mắt


Bài Xướng:


Nước Mắt

Não nùng mấy nhánh sông trôi
Hay em mắt ướt giữa đời quạnh hiu
Chiều lên, chiều ngẩn ngơ chiều
Tôi ngơ ngẩn nhặt cánh diều ướt mưa

Trần Bang Thạch
***
Các Bài Họa: 

Nước Mắt

Nghiệt oan bể mắt dòng trôi
Thuyền tình lặn hụp cảnh đời hắt hiu
Buồn ngơ buồn ngẩn ơi chiều
Hồn xơ xác thể như diều gặp mưa

Kim Phượng
***
Lạc Bến

Hồn lạc xa bến nước trôi
Tấp bờ phiền muộn vướn đời buồn hiu
Sợi nắng héo hắt cuối chiều
Không đủ sưởi ấm ta diều đẵm mưa

Kim Oanh
***
Mắc Mưa


Thời gian nghiệt ngã cứ trôi
Sóng tình xô đẩy cuộc đời buồn hiu
Chiều đi ngơ ngẩn từng chiều
Tơ lòng tan tác thả diều mắc mưa !

Song Quang
***
Bong Bóng Nước


Lênh đênh bong bóng nước trôi
Tựa tình si cũ quãng đời hắt hiu
Rơi rơi từng giọt đưa chiều
Trái tim lạnh giá như diều trong mưa.

Quên Đi
***
Vẫn Yêu Vẫn Nhớ Người Thôi


Tình như vận nước nổi trôi
Giọt yêu mang đến cho đời hiu hiu
Dù rằng tuổi đã về chiều
Nhưng lòng vẫn trẻ như diều gặp mưa.

Lý Tòng Tôn (7/2017)
***
Nước Mắt

Đời dài một mảng trôi trôi
Chậm vành mắt mỏi gói đời quạnh hiu
Hoàng hôn đọng mảng sương chiều
Dòng khô ngược mảng gió diều bứt dây

Nguyễn Đắc Thắng
***
Các Bài Cảm Tác:

Nhớ


Lặng nhìn sông nước mây trôi
Quê người thu tới bên trời đìu hiu.
Làm sao quên được buổi chiều
Mắt xưa nhoà nhạt lệ nhiều hơn mưa!

Mailoc

***
Chiều

Mắt nhìn biền biệt sông trôi,
Não nùng nhớ dáng ai ngồi quạnh hiu.
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều,
Nhớ người mưa ướt một chiều ướt mưa!

Đỗ Chiêu Đức
***
Ngẩn Ngơ...


Sông thương bèo dạt hoa trôi
Mây đen rớt hạt đứng ngồi buồn hiu
Thiết tha tha thiết buổi chiều
Ngẩn ngơ lại tiếc con diều sũng mưa

Mai Xuân Thanh
***
Đời


Phận người như chiếc thuyền trôi
Dòng sông lờ lững, dòng đời hắt hiu
Chiều qua rồi lại qua chiều
Trong lay lắt nắng, trong dìu dặt mưa.

Phương Hà
***
Nhớ Bậu


Nhìn trời mây trắng vẫn trôi!
Nhớ người vừa bước vào đời hẫm hiu
Chiều về chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ bậu những chiều ngắm mưa

Song MAI Lý Lệ


Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2017

Mến Tặng Kim Xuyến


Kim Xuyến thích phượng đỏ;
Việc nhà một mình lo;
Tiền bạc,vấn đề nhỏ!
Tình nghĩa mới là to!


THẠCH TRONG (HĐN)



Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2017

Vườn Ai


Vườn nhà vắng mặt người chăm sóc
Lý trắng đào hồng tự nở hoa *
Một đóa đầu mùa khoe sắc thắm
Ngạt ngào hương đấy ai vừa qua

Kim Phượng
* Thơ của Trúc Lâm Đại Sĩ tức vua Trần Nhân Tông

Thứ Năm, 27 tháng 7, 2017

Hạ Đắng - Hạ Tàn


Hạ Đắng

Nghe nỗi nhớ ùa về quay quắt
Héo hắt chiều... héo hắt bờ môi…
Mịt mù thưở bước chung đôi…
Người ơi, tội lắm tim côi! Nhói lòng...

Một mình ta ngồi trong quán vắng
Nhấm nháp từng giọt đắng thấm môi
Tình đời đen bạc, đãi bôi...
Chiều dâng... mây tím xa trôi cuối trời…

Khép mắt lại... giọt rơi, giọt ứa...
Hạ tàn…! Còn đâu nữa… người xưa...
Lạnh lùng... gió thoảng song thưa...
Nâng niu giá buốt giọt mưa... vô tình!

Dovaden2010-04/7/2017
***
Cảm Tác:

Hạ Tàn

Quay quắt nhớ cành mềm phượng rũ
Mái trường xưa bóng cũ người thương
Xa rồi thuở bước chung đường
Trông nhau lần cuối đại dương đôi bờ

Hồn hoang đảo hững hờ vạt nắng
Giọt chia ly đăng đắng bờ môi
Luyến lưu khoảnh khắc bồi hồi
Chiều dâng mây tím tim côi não nề

Phương trời cách hương thề đâu nữa
Rèm mi chờ lệ ứa khát khao
Như trang giấy mới ngọt ngào
Bâng khuâng gửi nhớ nỗi đau hạ tàn

Kim Phượng



Thứ Tư, 26 tháng 7, 2017

Lâm Giang Tiên - 臨江仙 - Dương Thận - 楊慎


滾滾長江東逝水      Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy,
浪花淘盡英雄          Lãng hoa đào tận anh hùng.
是非成敗轉頭空      Thị phi thành bại chuyển đầu không.
青山依舊在              Thanh sơn y cựu tại,
幾度夕陽紅              Kỷ độ tịch dương hồng.
白髮漁樵江渚上      Bạch phát ngư tiều giang chử thượng,
慣看秋月春風         Quán khan thu nguyệt xuân phong.
一壺濁酒喜相逢     Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.
古今多少事             Cổ kim đa thiểu sự,
都付笑談中.            Đô phó tiếu đàm trung!

ChúThích:

1. Đông Thệ Thủy: Thệ là Mất, là Chết. Thệ Thế 逝世 là Từ trần. Nên Đông Thệ Thủy 東逝水 là Nước chảy mất hút về hướng đông không trở lại.
2. Đào Tận: là Đào thải hết, đào thải sạch sẽ không chừa ai cả.
3. Chuyển Đầu: là Quay đầu nhìn lại, chỉ thời gian rất nhanh.
4. Bạch Phát: Tóc trắng, chỉ người già.
5. Ngư Tiều: là Ngư Ông và Tiều Phu.
6. Chử: là Bãi nước, là Bến nước, là Cồn ở giữa sông.
7. Quán Khan: đã quen nhìn, đã thường thấy.
8. Thu Nguyệt Xuân Phong: chỉ Thời gian lần lựa, hết thu nguyệt thì tới xuân phong và ngược lại.
9. Trọc Tửu: không phải là rượu dơ, mà là rượu thường của giới bình dân uống thường ngày, chưa được tinh chế chắc lọc.
10. Phó: là Phó mặc, là mặc cho.

Nghĩa Bài Từ:

Sông Trường Giang sóng xô nước cuốn cuồn cuộn chảy về biển đông rồi không bao giờ còn trở lại nữa.
Cũng như biết bao anh hùng hào kiệt đều như hoa sóng kia tan biến biệt tăm và chịu đào thải theo dòng lịch sử.
Bất luận là thị hay phi, là đúng hay sai, là thành hay bại, trong chớp mắt quay đầu nhìn lại thì đã không còn gì nữa.
Chỉ có núi xanh vẫn như cũ đứng trơ gan cùng tuế nguyệt và nắng chiều vẫn biết bao lần hồng lên rồi chợt tắt.
Những ông lão đốn củi và đánh bắt cá trên bến nước, họ đã quen rồi với thu nguyệt rồi lại xuân phong, thời gian cứ thế trôi đi.
Nên khi gặp nhau thì cứ cùng vui với nhau bên chung rượu lạt.
Biết bao nhiêu là chuyện lớn chuyện nhỏ trên đời nầy từ xưa đến nay.
Chẳng qua cũng chỉ là những chuyện nói cười trong lúc nhậu, là chuyện phiếm chuyện gẫu khi trà dư tửu hậu của người đời mà thôi !

Dịch Thơ:

Lâm Giang Tiên

Trường giang cuồn cuộn nước về đông,
Sóng xô đào thải hết anh hùng.
Thị phi thành bại quay đầu : hết!
Núi xanh vẫn còn đó,
Bao lượt nắng chiều hồng.
Ngư tiều đầu bạc trên sông nước,
Đã quen rồi thu nguyệt với xuân phong,
Một bầu rượu lạt thắm tình nồng,
Xưa nay bao thế sự,
Cười nói cũng như không!

Lục bát:

Trường Giang cuồn cuộn về đông,
Anh hùng như sóng theo dòng trôi xuôi.
Thị phi thành bại trên đời,
Quay đầu là hết núi đồi còn đây.
Núi xanh sừng sửng tháng ngày,
Hoàng hôn mấy lượt thêm dài hoàng hôn.
Ngư tiều đầu bạc ven thôn,
Trên dòng sông nước vùi chôn tháng ngày.
Một bầu rượu lạt ngà say,
Cổ kim thế sự nào ai có lòng?
Nói cười nhấp rượu như không!

Đỗ Chiêu Đức.
***
Tiên Trên Bến Sông

Trường Giang sóng dữ cuộn xuôi đông,
Chiến sĩ anh hùng thác mạng vong.
Thành bại thị phi ai có biết,
Non xanh nước biếc nắng chiều hồng.

Tiều phu đốn củi nay đầu bạc,
Bắt cá ngư ông tóc trắng bông
Mấy độ xuân phong thu tuế nguyệt,
Bạn già cạn chén rượu ngon nồng.

Hàn huyên thế sự ngoài tai bỏ,
Say khướt cười khà rốt cuộc không!
Tam quốc ngày xưa nhiều dũng tướng,
Khổng Minh, Mã Ý thuộc nằm lòng...

Mai Xuân Thanh
*** 
 Từ : Khúc Sông Dài

Sông dài nước đổ về đông
Sóng xô vẫn cuộn anh hùng thải đi
Còn gì phân rõ thị phi
Bại thành được mất cũng về biển khơi
Núi xanh vẫn đứng giữa trời
Ráng hồng vẫn cuốn chiều trôi lặng lờ
Ngư tiều bên bãi bạc phơ
Thu đi xuân đến vẫn vơ tháng ngày
Gặp nhau thù tạc cùng say
Mặc cho thế sự loay hoay nhọc nhằn
Có không … cười nói chả màng!

Nguyễn Đắc Thắng 170626
***
Khúc Lâm Giang Tiên

Cuồn cuộn Trường Giang mãi xuôi đông
Anh hùng khác chi bọt sóng
Hơn thua sai đúng cũng bằng không
Non xanh vẫn như cũ
Mấy lượt ánh dương hồng
Trên bến tóc ngư tiều bạc trắng
Đã quen trăng gió xoay vòng
Rượu lạt một bầu vui gặp gỡ
Xưa nay bao nhiêu chuyện
Mặc kệ cứ đùa bông.

Quên Đi
***
Lâm Giang Tiên

Hướng về đông Trường Giang cuồn cuộn
Sóng xô bao lớp anh hùng
Có sá chi đúng sai thành bại
Núi còn đó vẫn xanh
Ánh tà dương mấy độ
Ngư tìều trên bến phơi tóc trắng
Quá quen trăng gió vòng xoay
Mượn rượu đục mua vui gặp gỡ
Thế sự đời đã trải
Há cớ mãi có không!

Kim Phượng
***
Lâm Giang Tiên

Mải miết đông Trường Giang cuồn cuộn,
Bao anh hùng sóng cuốn tan thương.
Đúng sai, thành bại khói sương,
Non xanh còn đó, tà dương những chiều.
Trên bến sông ngư tiều tóc trắng,
Khi xuân nồng, khi ngắm trăng thu.
Tương phùng rượu đục lu bù
Nhẩn nha kim cổ, phàm phu khề khà.

Mailoc phỏng dịch.
***
Bạn Già Trên Bến Sông

Sông mãi trôi hoài xuôi hướng đông
Vùi chôn bao số phận anh hùng
Đúng- sai, thành - bại đều tan biến
Núi vẫn còn xanh, nắng nhạt hồng
Đôi bạn ngư tiều không bận trí
Một chung rượu nhạt cứ xoay vòng
Khề khà câu chuyện trong trời dất
Tất cả qui về một chữ KHÔNG!

Phương Hà
***
Vui Theo Sông Nước

Sóng xô cuồn cuộn nước về đông,
Cuốn hết anh hùng lẫn chí hùng.
Thành bại đúng sai đều mất hút,
Thị phi đắc thất cũng thành không.
Ngư Tiều đôi bạn vui sông nước,
Trà rượu bao chung nhắp chuyển vòng.
Chiều tắt chiều tà chiều lại tắt,
Hoàng hôn biết mấy độ vương hồng!

Đỗ Chiêu Đức
***
Tình Bạn Ngư Tiều

Sông nào cũng chảy hướng về Đông
Số phận chôn đi lắm kẻ hung
Thành bại,khen chê do chính kiến
Đúng sai, tốt xấu kể như không
Ngư Tiều trà rượu cùng chung nhắp
Ôi bạn thay phiên cứ chuyển vòng
Trăng gió chuyện trò quên thế sự
Thời gian chẳng nhạt được tình hồng

Song Quang
***
Chén Rượu Nồng

Cuồn cuộn Trường Giang xuống biển đông
Anh hùng hào kiệt xác phiêu bồng
Thị phi thành bại sai chưa đúng
Phải trái hơn thua được mất không

Tuế nguyệt non xanh cây cỏ biếc
Thời gian mai sáng ánh dương hồng
Tiều phu ngư phủ quen thân lắm
Tri kỷ bên nhau chén rượu nồng

Mai Xuân Thanh
Ngày 28 tháng 06 năm 2017

Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017

Một Lớp Khó Dạy


Năm 1963, tôi được một người quen giới thiệu vào dạy tại trường Nguyễn Bá Tòng Saigon; đầu tiên tôi phụ trách môn Anh văn cho hai lớp Đệ tam nữ. Một buổi sáng thứ bảy vào đầu tháng chín năm đó; tôi được Cha Chính làm giám học, mời vào văn phòng, ngài nói:
_Tôi muốn nhờ thầy dạy Anh văn sinh ngữ nhì cho lớp Đệ nhất nam của trường. Về khả năng tôi không giám nói, nhưng thầy trẻ như vậy không biết có thể điều khiển lớp đó được không?
_Xin Cha cứ để con dạy thử xem sao, tôi mỉm cười trả lời.

Về nhà, tôi thắc mắc: tại sao khai giảng được hơn một tháng rồi, mà lớp này chưa có giáo sư dạy Anh văn? Tò mò tôi hỏi thầy Đạo, thơ ký văn phòng, lo việc xếp giờ của trường; thầy cho biết:
_Bí mật, thầy nói, một mình giáo sư biết thôi nhé! Đã mấy thầy phải bỏ lớp này rồi: nó phá quá không dạy nổi!
Buổi dạy đầu tiên cho lớp đó, tôi còn nhớ, là vào sáng thứ hai. Hôm ấy, tôi vừa bước vào lớp,nghe tiếng hô thật lớn: “Nghiêm”; cả lớp đứng theo “nghi lễ chào Quốc kỳ”; tôi thầm nghĩ, mình đã cưỡi lên lưng cọp! Liếc qua mấy bàn đầu, tôi thấy có mấy học sinh để ria (kiểu người lớn). Tôi giơ tay ra hiệu, nói:
_Mời các bạn ngồi xuống! Thấy tôi đổi cách xưng hô, cả lớp có vẻ bỡ ngỡ, mọi người im lặng.
_Hôm nay tôi đến đây để giúp các bạn trau giồi môn Anh văn, trước tiên tôi yêu cầu các bạn một điều: trong kỳ thi Tú tài hai tới, tôi mong các bạn sẽ cố gắng, nếu không đậu vì môn Anh văn thì đừng ai rớt vì môn này! (Trong lúc đó, nhìn ra cửa, tôi thấy Cha Hiệu trưởng và Cha Giám học lảng vảng ngoài hành lang; có lẽ các ngài muốn biết tình hình lớp tôi đang dạy ra sao, có ổn không?).

Tôi còn nhớ lớp Đệ nhất hồi đó, cuối niên khóa, thi Tú tài hai, các thí sinh phải vào vấn đáp về môn ngoại ngữ nhì.
Tôi vừa ngồi vào bàn, quạt trần bắt đầu mở, giẻ lau bảng và bụi phấn bay khắp phòng!
( Hệ thống quạt và đèn tại các lớp học của trường đều do văn phòng của Giám học tắt và bật…Có học sinh nào đó đã lau bảng và đặt giẻ lau trên các cánh quạt.)
Cả lớp cười ồ ! Tôi đứng lên, liếc mắt nhìn từng dẫy bàn, rồi thản nhiên nói:
_Các bạn ai cũng biết rằng, đây là năm cuối cùng ban trung học của các bạn; sang năm các bạn sẽ là các sinh viên đại học: đàng khác, đối với trường, các bạn là lớp đàn anh, chắc các bạn ai cũng muốn mình là gương mẫu cho các lớp đàn em ở dưới phải không? Vậy tôi xin các bạn đừng làm gì để phải mất cảm tình đối với nhà trường nói chung, và nhất là đối với ban Giám hiệu nói riêng. Nói xong tôi về bàn, lấy sách và phấn , đi về phiá bảng đen, bắt đầu giảng bài.
Bài đầu tiên tôi giảng cho lớp là “Lesson one” của cuốn sách nhan đề “Direct Method”. Bộ sách này có hai tập nhỏ:”Part One” và “Part Two”, mỗi tập có mười bài ngắn; mỗi học kỳ phải học hết một tập. Đây là tài liệu do Bộ Giáo Dục chọn cho các thí sinh thi Tú tài hai vào vấn đáp.
Trong lúc giảng bài tôi thấy những học sinh ngồi hàng ghế đầu có vẻ chăm chú nghe và ghi chép cẩn thận; nhưng mấy học sinh ngồi ở cuối lớp, tỏ vẻ lơ là, không chú ý lắm! Một vài em, mắt giả vờ nhìn vào sách, nhưng tay lại chuyển giấy chơi“carreau” với nhau! Tôi cho rằng, mấy em này trước đây đã có học thêm Anh văn rồi; nên vào giờ chơi giữa buổi, tôi ở lại nói chuyện với các em và được biết: có em đã học ba bốn năm tại các trung tâm Anh ngữ ở ngoài.
Về nhà tôi mới nghĩ ra, lý do tại sao mấy thầy dạy trước đã phải chịu thua, không dạy nổi lớp này: các học sinh lớp này kiến thức Anh văn không đồng đều; nếu dạy theo sách giáo khoa thì những học sinh trình độ cao sẽ ngồi chơi; mà dạy ra ngoài bài bản thì những em mới học sẽ ngáp ngủ! Vì thế tôi đổi “chiến thuật”: yêu cầu mỗi học sinh phải có một tập ghi chép ngữ vựng và ngữ pháp; tôi sẽ căn cứ vào đó để kiểm tra, cho điểm vấn đáp hằng tháng; và trong quá trình giảng bài, khi gặp một ngữ pháp nào đặc biệt, tôi liền gọi mấy em ngồi bàn cuối lên bảng, cắt nghĩa cho cả lớp nghe. Từ đó mọi người trong lớp đều phải chăm chú học, vì sợ bị gọi lên bảng bất ngờ, không trả lời được thì “quê” với cả lớp!
Vào cuối giờ học hôm đó, tôi nói với lớp:
_ Chắc các bạn cho rằng tôi còn “ trẻ người non học” phải không? Vậy tôi sẽ cho các bạn một bài tập về ngữ pháp làm tại nhà, trong vòng một tháng; các bạn có thể tra cứu bất cứ tài liệu nào, hỏi bát cứ ai; bạn nào làm được, tôi sẽ cho học bổng một năm: khỏi phải đóng học phí cho trường. Cả lớp giơ tay nói:
_Xin thầy cho đề tài.
_Trước hết, để tuyển lựa, tôi cho các bạn một câu hỏi về nhà làm trong vòng một tuần; bạn nào làm đúng và nộp đầu tiên, tôi mới cho bài tập trên.
Kết quả là: sau một tuần, rồi hai tuần, đến cả ba tuần sau, cũng không ai trả lời được.
Từ đó trở đi không một học sinh nào trong lớp này dám coi thường giờ dậy của tôi nữa.
Đầu tháng khi tới phòng Cha Giám học lãnh lương, ngài nói với tôi:
_ Theo nhà trường thì thù lao môn phụ thấp hơn môn chánh, nhưng đối với thầy, thì nhà trường tính bằng môn chánh là 100$ một giờ.
_ Cám ơn cha, tôi mỉn cười trả lời.
_ Tôi hơi thắc mắc, ngài tiếp, không biết tại sao thầy mới vào dạy đây, mà không thua kém gì mấy thầy đã từng dạy cho trường cả chục năm rồi?
Lúc đó tôi cũng chỉ biết mỉn cười và nói lời cám ơn rồi ra về. (Tôi thầm nghĩ: phải chăng đây là thuật điều khiển theo từng trạng huống!)
Nếu tôi không lầm, thì đây là lớp Đệ nhất nam đầu tiên, cũng là lớp Đệ nhất nam cuối cùng của trường. Vì từ đó ban Giám hiệu chỉ mở lóp Đệ nhất cho nữ sinh mà thôi!

Vào khoảng năm 1970, trường đã đổi thành trường nữ; cũng là vì các nam sinh phá quá! Lấy thí dụ, trường hợp điển hình: vào những ngày trước tết Nguyên đán, các nam sinh thường đem pháo vào trường đốt; mặc dầu nhà trường đã ra thông cáo không được đem pháo vào trường; có lần tôi thấy ban giám thị và nhân viên của trường phải chặn các nam sinh ngay tại cổng trường để xét cặp, thế mà vẫn có học sinh đem được pháo lẻ đến lớp; rồi vào nhà cầu, buộc pháo vào thuốc lá, châm lửa để thuốc cháy dần cho pháo nổ; ban giám thị hành lang chịu thua, không sao tìm ra thủ phạm! Nếu tôi không lầm thì từ niên khóa 70-71, tất cả các nam sinh nào muốn theo học trường NBT Saigon đều phải chuyển sang trường NBT Gia định, và cha Công, nổi tiếng là “dữ đòn” được cử làm Giám thị bên đó.

THẠCH TRONG (HĐN)
Ảnh từ THẠCH TRONG (HĐN)