Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Nhật Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Nhật Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

Bé

           Phan Phương Khanh
         (18/3/1947-18/3/2026)

Năm em tôi lên ba
Đã chịu đời xa bố
Mẹ tất tả thân gầy
Nuôi con bao vất vả
Đời thiếu nữ lớn lên
Đắng cay thêm tủi hổ
Áo vá bạc vai gầy
Tuổi thơ sôi cuồng nộ
Mẹ mất năm Mười Ba
Thảm thiết sao kể xiết
Gắng nuôi em từng ngày
Khốn khó dài biền biệt
Bạn học những tỵ hiềm
Thầy, cô nặng trì siết
Bé bỏng hiểu buồn phiền
Buổi thanh xuân thua thiệt
......
Tôi đi làm lính chiến
Trôi nổi chốn trận tiền
Em một mình côi cút
Đâu được cảnh đoàn viên
Mong phần sau lớn lên
Tình duyên nên mãn nguyện
Cầu em đời bình yên
Quên khuất ngày uất nghẹn
Nào đâu buổi sụp vỡ
Cảnh nước mất tan nhà
Lâm thân sơ, thất sỡ
Vây quanh khổn mù sa
Long Thành, chồng tập trung
Anh ngục tù lấm nhục
Trên quê hương lưu đầy
Rừng rực lửa địa ngục
Bốn con thơ khốn cùng
Sức người căng vượt sống
Tư trang bán sạch dần
Cây rừng khô lá rụng
...
Tôi đi lên miền Bắc
Nghiệt phần thân thậm ngặt
Nhớ thương em dãi dầu
Nơi quê nhà bằng bặt
Rừng núi trời vào Thu
Tù vượt đồi đốn nứa
Bên đường đèo nghỉ đỗ
Nghe chuyện buồn thương tâm,
“...Chồng cải tạo tập trung
Vợ ở nhà chết thảm
Bốn con nhỏ khốn cùng
Quay quắt bên thây cứng ...”
Những tưởng nghe nhầm tai
Giật mình gào hỏi lại
Ôi xiết bao kinh hãi
Đúng tên chồng em gái!

1

Chuyện những Đồi Hoa Sim (1)
Nay một lần lập lại
Không chết người ngục tù
Một mình em oan trái
Tôi bật khóc trên đồi
Nhìn khoảng không vần vũ
Có còn không ... Đất
Trời?!
Mây mang mang kéo lũ
Rừng chập chùng lá đổ
Sương dầy vây khói xanh
Thật hay không đấy hở
Tạo Hóa nghiệt cùng đành!
Cháu tôi ai nuôi đây?
Bé nhất chưa biết nói
Chịu sao nổi đọa đày
Giữa trùng vây khổ đói
Năm năm ngày giỗ em
Cấm phòng ngồi gục mặt
Nhói đau trũng ngực nặng
Em chết thật sao Khanh?
(*) Đồi Hoa Sim: Thơ Hữu Loan,
Kể thảm phận người nữ trong thời chiến (1946-1954).
18-3-1983,
Ngục tối Trại Lam Sơn
Không biết ngày chết,
Nhớ ngày Em tôi đã có trong đời.

Hậu từ Bé,

Chạnh nhớ lần mất em
Chẳng hay buổi tử biệt
Lấy ngày sinh thay chết
Thôi thì cũng cùng đành
Năm mươi năm trôi qua
Nay tuổi già chốn vắng
Nhìn ảnh hình xưa cũ
Coi như hết đoạn trường.

Phan Nhật Nam

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

Thơ Haiku Người Nhật- Lục Bát Người Nam - Đợt gió Thứ Ba



    Trong cuộc sống hỗn mang hiện tại, không thể làm gì hơn là viết Haiku/Lục-Bát. Làm xong Đợt Gió Thứ. Ba kiểu như Bùi Giáng trước kia, cốt cho vui. Lỡ tay đụng vào máy mất hết nay làm lại nhân ngày Father Day. Ngày Của Cha đồng thời nghe tin Phan T. người bạn còn trẻ nhưng đã chết già từ một ngày nào đó của năm qua. Cám cảnh từ những Người Cha sống/chết trong đơn độc nên viết những giòng Haiku/Lục Bát nầy. Cũng bởi, con người không thể làm gì khác! Nếu không/chưa giúp người đọc cười tiếng nhỏ thì có lẻ khả năng của người viết chưa tới, chứ Haiku/Lục Bát thì quả thật siêu việt với cấu trúc 5-7-5/6-8 đơn giản. Rất đơn giàn.

1.

Nghe tin muộn, bạn chết
Một Ngày Hiền Phụ năm đã qua
Con không gọi hỏi thăm.
Nghe tin bạn lặng qua đời
Một Ngày Hiền Phụ không lời, tiếng con

2.

Lâu không nhận thư con
Sáng Chủ Nhật/Ngày Cha ủ dột
Humming bird một mình bay
Đã lâu không có thư con
Thân chim đơn độc, cánh vùi dập đau

3.

Nhỏ Mễ chạy trên cỏ
Tay rộng mở vời lên trời cao
Cha ngồi nhìn con cười
Bé thơ bãi cỏ đùa chơi
Nào hay đang với nụ cười lòng cha

4.

Tuổi già không gì vui
Tình cảnh thật vô cùng kiệt lực
Cũng không còn sức buồn.
Tuổi già nào có gì vui
Buồn kia cũng chẳng nặng phần cưu mang

5.

Nên đọc kinh theo lúc
Tạng hình phải tùy nghi thể dục
Chí ít khỏi sa hỏa ngục
Người ơi có dịp kinh cầu
Chuyên tập thể dục, ngục đài chối phăng

6.
Chẳng nên Thần, hiển Thánh
Trần thế hằng hiện Thật Hai Người (*)
Thấm Tận Khổ - Chịu Đau
Thế gian thân phận Hai Người
Tấm Lòng thấm Khổ - Căn phần tận Đau

(*) Thái Tử Tất Đạt Đa-Người Jesus Nazareth

7.
 Người có thói soi gương
Nhìn lâu không thấy ra hình tượng
Những lạ lẫm sắc, tướng
Con người quen thói soi gương
Dài năm, chầy tháng, nhìn vào trống trơn

8. 
Tóc dựng ngược mũi gươm
Tai đầy tiếng nổ, mắt tóe lửa
Cảnh Chiến Tranh – Cõi Người
Tóc tua tủa nhũng mũi gươm
Tai tiếng nổ, mắt lửa nung – Cõi người!

9. 
Thân nặng chịch cùm gông
Lưng mang tội, vai chất oan nghiệt
Con Người Khổ thế ư?
Thân mang nặng chĩu cùm gông
Phận Người khốn khổ tội đồ oan khiên

10.
 Cha ơi! Sao nỡ bỏ!
Eli! Eli! Lama Sabachthani (*)
Con Chúa-Người nên Một
Hỡi Cha nơi chốn trời cao
Con Người-Con Chúa cùng lần kêu Đau

(*) Eli! Eli! Lama Sabachthani/Chúa ơi! Chúa ơi! Sao bỏ con- 7 chữ cuối cùng Đấng Christ kêu trên

Thánh Giá

Phan Nhật Nam,

19/6 - Ngày Quân Lực 1965 ở VN/Ngày Của Cha 2022 ở Mỹ.



Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2022

Thơ Haiku Người Nhật - Lục-Bát Người Nam - Đợt gió Thứ Hai

     Thơ Haiku gồm “cấu trúc 5-7-5”, trình bày những hình ảnh, sự vật, việc (tưởng) không liền lạc gì với nhau (theo nhận định thông thường). Tuy nhiên, mỗi người đọc cứ thong dong tham dự tùy theo ”tâm lượng” của mình. Từ thân, ý, tình đơn giản của bản thân, Haiku cũng tương tự như “Đêm qua ra đứng bờ ao..” của người Việt. Chỉ khác Haiku có 17 chữ chia làm ba giòng: 5-7-5 - Khác với Lục/Bát của người Việt-14 chữ viết thành hai dòng 6-8. Tại sao Lục/Bát/Người Việt 14 CHỮ chia thành HAI dòng, và Haiku Người Nhật/17 CHỮ chia thành BA dòng thì chỉ do “thuận duyên” mà thành, mỗi Dân Tộc có Tính và Hạnh khác nhau. Chẳng nên thắc mắc làm chi. Người viết trong cuộc sống hỗn loạn hiện tại, không thể làm gì hơn là làm Haiku/Lục-Bát. Làm chơi cho vui kiểu như Bùi Giáng trước kia. Cũng nên nói thêm, những chữ, lời đơn giản từ Haiku là viết cho hết thảy chúng ta trong cảnh sống bình thường/tầm thường, chứ không gì sâu xa, bí hiểm. Coi như gió thoảng qua. Hơi gió đầu xuân, chủ đề của đợt thứ hai nầy. Nếu không/chưa giúp người đọc nụ cười nhỏ thì có lẻ khả năng chuyển Lục/Bát của người viết chưa tới, chứ Haiku thì quả thật siêu việt với cấu trúc 5-7-5 đơn giản im lặng.

11-

Cứ như giấc mơ vui
Sao người nhạo cười tôi giỡn cợt
Bày nên chuyện tầm ruồng

Takeuchi (1910-1977)

Coi như một giấc mơ vui
Sao người vội kết trò chơi đặt bày

12-

Là người vợ bình thường
Lộng lẫy tựa tân khách đến chơi
Sáng sớm đầu xuân mới

(Iso, (?) )

121/

Em ơi, người vợ ngày thường
Sáng xuân xinh đẹp rạng ngời ghé thăm

122/

Chỉ là hiền nội đảm đang
Sáng xuân đẹp rộ vô vàn dáng hoa

13-

Quà năm mới, đầu xuân
Bầu vú mẹ, con thơ ấp ủ
Ngón bé nhỏ dịu dàng

(Issa, 1763-1828)

Năm mới lộc đời thắm thiết
Tay con ấp vú mẹ hiền diệu ngoan

14- 

Hoan hô.. Ta hoan hô
Chỉ mong cầu năm mới sẽ tới
Cứ như vậy.. mà thôi.

(Issa)

Vui mừng hoan hỉ biết bao
Năm mới cũng thế như là vừa qua

15-

Đầu năm xe chở khẵm
Giấy vụn cũng tựa như lẵng hoa
Ngựa bừng bừng phấn khởi

(Shiki, 1866-1902)

Đầu năm ngựa kéo xe đầy
Lẵng hoa –giấy vụn sao tầy vó câu

16-

Mặt trời tan chảy tuyết
Với chiếc gậy mong manh dò biết
Sông sâu nước chảy xiết

(Issa)

Tuyết tan, gậy nhỏ mong manh
Dò xem sông rộng ẩn tàng hiểm nguy

17- 

Tuyết cũ đã chảy tan
Lều tranh cũng không còn lạnh giá
Con trẻ hằng hân hoan

(Issa)

Tuyết mùa đông cũ đã tan
Lều tranh thôi lạnh bé tràn hân hoan

18-

Kìa viên đá rạng ngời
Lóng lánh sâu nơi đáy con suối
Nước cùng lần sáng trưng

(Basho, 1644-1694)

Từ sâu đáy suối đá màu
Sáng trưng biên biếc theo giòng nước trong

19-

Ô cơn gió sỗ sàng
Anh lợp tranh trên mái phơi bày
Phần hạ thể nhìn từ dưới

(Issa)

Hởi ôi cơn gió sỗ sàng
Nhìn ra hạ thể anh chàng lợp tranh

20-

Ngọn Phú Sĩ im lặng
Đơn độc vút cao không che lấp
Triệu phiến lá mới rơi

(Buson 1715-1783)

Phú Sĩ đứng im đơn độc
Vút lên ngờm ngợp dẫu ngàn lá rơi


Tháng 6, 2022
Cố qua Tháng 6, ngày rày năm xưa

Phan Nhật Nam


Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2022

Thơ Haiku Người Nhật - Tấm Lòng Nam Nhân


    Đại Sư Basho (1644-1694) chuyển những Công Án Thiền nên thành Thơ Haiku theo “cấu trúc 5-7-5”, trình bày những hình ảnh, sự vật, việc không liền lạc gì với nhau (theo nhận định thông thường). Tuy nhiên, mỗi người đọc cứ thong dong tham dự tùy theo ”tâm lượng” của mình. Từ thân, ý, tình đơn giản của bản thân, Haiku cũng tương tự như “Đêm qua ra đứng bờ ao..” của người Việt. Chỉ khác Haiku có 17 chữ chia làm ba dòng: 5-7-5 - Khác với Lục/Bát của người Việt -14 chữ viết thành hai dòng 6-8. Tại sao Lục/Bát/Người Việt 14 CHỮ chia thành HAI dòng, và Haiku Người Nhật/17 CHỮ chia thành BA dòng thì chỉ do “thuận duyên” mà thành, mỗi Dân Tộc có Tính và Hạnh khác nhau. Chẳng nên thắc mắc. Người viết trong cảnh hỗn loạn hiện tại, không thể làm gì hơn là làm Haiku/Lục-Bát. Làm chơi cho vui kiểu như Bùi Giáng trước kia. Cũng nên chân thực nói thêm, những chữ, lời đơn giản từ Haiku là viết cho hết thảy chúng ta trong đời sống bình thường, chứ không gì sâu xa, bí hiểm.

1-
Vốc tuyết nhỏ mái hiên
Êm êm rơi lặng thinh trắng xóa
Hòa tan thành âm điệu

(Issa,1763-1827)

Hàng hiên nắm tuyết rơi im
Lắng nghe âm sắc lặng thinh tuyệt mù

2-
 Mặc lên tấm áo mới
Ồ lạ lẫm khác biệt làm sao
Cứ như một ai đó

(Basho, 1644-1694)

Xỏ tay áo mới lần đầu
Thấy ra như thể một người nơi đâu?

3- 
Gió đầu năm thổi tới
Ngọn lửa đèn dầu nơi phòng tắm
Chập chờn leo lét soi

(Oemaru, 1720-1805)

Đầu năm gió lạnh thổi dồn
Đèn dầu phòng tắm chập chờn lặng im

4- 
Chào em, chim sẻ nhỏ
Trên hàng hiên sạch đẹp nhà tôi
Dấu chân in lấm chấm

(Shiki, 1866-1902)

41/ Chào em chim sẻ mến thương
Dấu chân để lại nhẹ như sương mờ

42/Sẻ ơi để lại hiên nhà
Chân em in dấu mù sa nhạt nhòa

5- 
Thương người nữ không con
Dịu dàng thay bàn tay chạm tới
Búp bê bày bán son.

(Ransetu, 1654-1707)

Thương thay người nữ không con
Ngón tay khẻ chạm dạng hình búp-bê

6- 
Đá băng và giòng nước
Khác nhau từ bao lâu thuở trước
Cùng rơi giọt vô âm

(Teishitsu, 1610-1673)

Đá băng kia với giòng nầy
Cùng nhau rơi lặng giọt thầm vô thanh

7-
 Dẫu lũ to, mưa lớn
Tẩy xóa thế nào Phú Sĩ Sơn
Xuống bùn hồ nhỏ hẹp

(Buson 1715-1783)

Lũ to, mưa lớn thế nào
Làm sao tẩy xóa cao vời Đại Sơn

8-
 Đầu năm được giấc mơ
Giữ kín như một điều cẩn mật
Cười thầm riêng một mình

(Sho-U, (?) )

Đầu năm nằm thấy giấc mơ
Cười thầm giữ chặt một điều riêng tư

9-
Bầy ngỗng hoang trở về
Cớ sao gào tiếng kêu ầm ĩ
Vang động vỡ đêm trường

(Roka, 1672-1703)

Ngỗng hoang ngờm ngợp bay về
Tiếng kêu vang động đêm trường âm u

10- 
Rơi tuột xuống đất đen
Cánh diều sau nhiều lần tung gió
Hẳn diều chẳng còn hồn

(Kubonta, 1889-1963)

Hỡi ơi rơi xuống đất đen
Cánh diều còn giữ linh hồn được chăng

Cali, 6 Tháng 6, 2022                   
Giữa ầm ĩ biến động chung quanh

Phan Nhật Nam


Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2019

Hỏi Thầm


Quá khuya một mình ra hồ băng
Đàn ngỗng soãi cánh bay im lặng
Bóng gờn tuyết lung linh trời sắc xám
Chợt hỏi thầm đã đủ thấm buồn không?!!!

Phan Nhật Nam

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2019

Tiếng Lời Chân Thật


Tôi đi xuyên suốt sông cùng biển
Chẳng lội qua đâu nỗi đoạn trường
Cho dẫu đất trời muôn vạn dậm
Cuối cùng chạm tới chỗ Không thôi!

Phan Nhật Nam


Thứ Hai, 31 tháng 12, 2018

Buổi Chập Choạng


Mờ đục hơi sương trời trở lạnh
Vườn khăn khít loáng dáng tàng cây
Quanh quất ngõ im lần ra bến vắng
Ngỡ đâu trăng trắng xám giòng sông

Ta chìm sông trôi trầm biền biệt
Ta thấm trăng soi dõi biên biếc
Đầu nguồn cuối ngạn mờ giăng giăng
Bóng người sắc trăng nhòa bằng bặt

Phan Nhật Nam
Đầu đêm ra bến sông,
Hết tháng 12,
Cũng cuối năm 1992.

Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018

Mưa Đêm Cuối Năm Nghĩ Quẩn


Nào…
Thấm xuống giọt mưa trái mùa khắc khoải
chìm lắng nỗi đau chưa hề được nói
gắng trôi
trôi đi
giòng nước rặc qua rạch nông
đã xa xôi ngày hè héo khô
xác lá…

Thậm kinh hãi
Phận người dài khó ngặt
Cơn đau không lường trước
Xuyên suốt vỡ hư không.

Rồi ra…
Đã hết ngày hè
Đợi đêm trở rét eo sèo chiều đông.
Vậy,
Thế thôi
chờ qua xuân,
Người không đi hết nghiệt phần thế gian.
Khuya khoắt,
thắt thẻo,
trăng tan,
Cuối năm mưa khốc liệt người trống không.
Vườn sâu âm cú rúc dồn…

Phan Nhật Nam

5, tháng 12, cuối năm 1992.
Từ chiều vào đêm, một ngày nên nhớ.
Nhỡ quên cũng không sao


Thứ Tư, 11 tháng 5, 2016

Chốn Thật Của Người


Ở đâu dậy Hỏa Ngục
Nơi nào mở Thiên Đàng
Chỉ trong ta cồn lửa
Rầm rập dồn hỗn mang.

Phan Nhật Nam
Tàn Thu Nhâm Thân 1992


Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

Cảnh Tượng, Chiều Mưa Giông


1-
Vợ chồng trẻ

Anh đạp xe hừng hực
Lay lắt cô vợ gầy
Đứa bé con sũng ướt
Cầu Bình Lợi mưa rây.

2-
Người già

Tinh mơ người ra đi
Khuya khoắt đêm trở
Nặng nhọc xe đạp đẩy
Chòm râu thưa mưa bay.

3-
Lão bà

Lão bà khó gánh nước
Chậm bước đường dốc trơn
Cảnh khổ còn gì hơn
Tuổi già vai khẫm nặng

4-
Bản thân

Xế chiều chợt thức muộn
Ngỡ trời hẳn mưa giông
Phải chăng gió thổi dồn
Lại nằm ra ngủ nướng

Phan Nhật Nam
Chiều đêm mùa mưa 92,
Từ Bình Lợi,
Về vườn Lái Thiêu.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

Người, Bóng Tối, Sự Không



1-
Rượu càng uống càng nhạt
Lòng chầm chập phiền hà
Nửa đời đà đi khuất
Coi như chớp mắt suông.
2-
Vào đêm…
Lần tàn xuân
Mùa xuân nào đang tận
Cây lá xông khói xám
Vườn măng loang sương lam.
3-
Làm thơ như đùa chơi
Đưa theo cơn vô định
Đêm dài đường chẳng hết
Chập chờn thấp thoáng say.
4-
Nghe gió thổi ngoài sông
Muốn đưa tay giữ gió
Chợt xao xác trong lòng
Cơn phiêu bồng hoan lạ.
5-
Quả thật có Vô Cùng
Lớn lao trùm mặt đất
Ôi xiết bao kinh hoàng
Từng giây khắc trống rỗng.
Ngồi nhìn xuyên bóng tối
Bên kia sâu màn đen
Thấm hiểu cơn bất định
Giữa hai lằn có – không


Phan Nhật Nam

Đêm hết Tết 1991,
Lái Thiêu.

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

Vẫn Là Sự Sống, Từ Tôi



1-
Trưa qua, chiều lại nôn nao
Nóng ran hơi thở cồn cào trong thân
Khó khăn nằm xuống tần ngần
Ngó mông ra chốn trống không rợn người.

2-
Tôi không sợ lửa sáng trưng dục vọng
Bừng bừng cháy bỏng thịt da
Chỉ nặng nhọc dòng muộn phiền rối rắm
Dày vò người mòn tàn tạ Từ Tâm.

3-
Người ơi!!
Gánh chịu một lần.
Cùng nhau chia sớt đôi phần xót xa.
Kêu xong.
Ngẩn mặt về trời…
Hóa ra âm vọng vô lời tự thân

Phan Nhật Nam
Tháng 1, 1991.


Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Thánh Lễ


Một buổi tối qua Thánh Lễ
Với trái tim bồi hồi
Đây,
Suốt dòng lâm lụy Cầu Chúa đủ trong tôi.
Dẫu sao cũng là người
Nghiệt ngã cùng khốn khổ
Xin được chứng Ngôi Lời
Xót xa hằng lệ ứa
Giữa đêm giọt thầm rơi.

Phan Nhật Nam
Ngày Chư Thánh 1- 11- 90.

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Đợi Đêm


Mẹ, cha đà mất hết
Vợ, con xa niềm riêng
Bằng hữu không ai đến
Nhìn quanh nắng quái xiêu.
Người sống cơn ngủ đối
Xoay xở gắng qua ngày
Ngày lại ngày sau nữa
Đang buổi chiều…
Mong Đêm.

Âm ấm Đêm thân thiết.
Hơi ấm Đêm thầm thì.
Ta và Đêm nhắc nhủ
Lặng yên chờ màu Trăng.

Này Trăng Xanh quạnh quẽ
Thiêm thiếp dõi ánh mềm
Ta trong Trăng biền biệt
Đơn độc một cõi riêng.

Phan Nhật Nam
Của Một Ngày.
Tháng 8, 1990



Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Em Tôi


      Năm em lên ba, bố tôi bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường tập kết.
     Tôi hơn em sáu tuổi. Chín tuổi con nhà nghèo khôn lắm, tôi đủ khôn để thấy khuôn mặt mẹ buồn hiu hắt, những tiếng thở dài và những giọt nước mắt âm thầm của mẹ trong đêm. Chín tuổi, tôi đã biết mình là người nam độc nhất trong gia đình, đã biết ẩm bồng đút cơm cho em và vỗ về em mỗi khi em khóc. Chín tuổi, tôi đã biết tắm rửa, thay áo thay quần cho em, cõng em đi chơi và dỗ cho em ngủ. Mỗi ngày, trời sập tối mẹ mới gánh hàng về, ba mẹ con ngôì ăn cơm bên ngọn đèn dầu, tôi và em hỏi han, an ủi mẹ. Mẹ kể cho chúng tôi nghe chuyện chợ búa như đang nói chuyện với người lớn, tôi ngồi nghe, nhìn đôi vai gầy của mẹ, nhìn mái tóc và đôi bàn tay khô của mẹ, mà thấy thương mẹ vô cùng.
      Tôi phải bỏ học ở nhà hai năm để trông chừng em. Mẹ có một sạp bán rau cải ở chợ Cồn. Gọi là sạp chứ thực ra chỉ là một ô đất nhỏ, sáng mẹ ra đi thật sớm, lúc trời còn mờ sương, buổi trưa mẹ về nhà lo cho chúng tôi ăn, nằm nghỉ ít phút rồi trở dậy sửa soạn cho chuyến chợ chiều. Một tuần bảy ngày, mẹ đi đi về về trong nỗi cô đơn.

      Năm em vừa tròn năm tuổi thì mẹ cho em vào mẫu giáo, tôi cũng trở lại trường, đám bạn cũ của tôi nay đã hơn tôi hai lớp, ngồi xung quanh tôi bây giờ là những khuôn mặt lạ, kém tôi hai, ba tuổi. Tôi là học trò lớn nhất và học khá nên được làm trưởng lớp. Gần cuối năm học lớp nhì, tôi nói với mẹ lên xin thầy Hiệu trưởng cho tôi được thi nhảy tiểu học. Thầy bằng lòng. Tôi cắm cúi học luyện thi và kết quả là tôi đã đỗ được bằng Tiểu Học năm đó.

      Vào lớp đệ thất trường Trần quốc Tuấn, tôi tiếp tục học ngày, học đêm, năm Đệ Ngũ tôi thi nhảy một lần nữa lấy bằng Trung Học. Đến niên học Đệ Tam thì tôi đã bắt kịp đám bạn cũ, tôi hân hoan nhập bầy chung với đám bạn ngày xưa. Đây là giai đoạn mà tôi cần tiền để mua sách học và may thêm quần áo, thời tiểu học và trung học Đệ Nhất Cấp thì mặc sao cũng được, nhưng bây giờ đã lên Đệ Nhị Cấp rồi, đã bắt đầu biết đỏ mặt khi nhìn những đứa con gái trường nữ, thỉnh thoảng đã biết theo bạn tập uống cà phê, phì phà điếu thuốc. Tiền mẹ cho không đủ, tôi bắt đầu công việc kèm trẻ tư gia để kiếm thêm tiền. Học trò của tôi là mấy cô cậu đệ thất đệ lục, nghĩa là cũng chỉ bé thua tôi vài tuổi.
      Ba mẹ con tôi vẫn ngày ngày đi về căn nhà nhỏ, căn nhà vẫn không thay đổi một chút nào từ ngày bố bỏ mấy mẹ con để ra đi.

      Hết năm Đệ Tam, tôi nộp đơn thi Tú Tài phần nhất. Tôi đậu bình thứ. Một lần nữa, mọi người ngạc nhiên, nhưng tôi biết sức học của mình. Tôi biết mẹ buôn bán tảo tần, tôi thấy những năm tháng gần đây mẹ trở bệnh hoài, mỗi sáng mẹ lục đục dậy thật sớm nấu cơm để dành cho anh em tôi, rồi lặng lẽ mang đôi quang gánh lên vai, những tối ngồi trầm ngâm bên ánh đèn dầu nhìn anh em tôi học bài và những đêm khuya mẹ trở mình húng hắng ho. Tôi thương mẹ và em đến ứa nước mắt, và càng thương mẹ thương em, tôi càng học như điên, như cuồng. Tôi ước gì Bộ Giáo dục cho tôi thi hai bằng Tú Tài cùng một lúc. Nhìn mái tóc mẹ đã lớm chớm sợi bạc, nhìn lưng mẹ mỗi ngày mỗi như còng xuống, nhìn hai vai gầy của mẹ mà lòng quặn đau, và cứ thế, tôi vùi đầu vào sách vở ...

      Em đã bắt đầu tuổi lớn, đã bắt đầu tuổi mộng mơ con gái, đã bắt đầu bước vào “tuổi ngọc”. Nhưng tội nghiệp, biết nhà mình nghèo, biết mẹ mình buôn thúng bán bưng, biết anh mình vẫn chiều chiều đi kèm trẻ kiếm thêm tiền và cặm cụi học đốt giai đoạn cho chóng thành tài. Biết thế nên em ít khi nào xin mẹ, xin anh tiền may áo mới, hai chiếc áo dài trắng đủ cho em thay đổi. Em lớn lên thiếu tình của bố, nên tôi “quyền huynh thế phụ”.. Nhiều lúc nhìn mẹ, nhìn em, tôi vẫn không hiểu tại sao bố lại đành đoạn dứt áo ra đi.

      Tôi thi đỗ Tú Tài toàn phần năm 18 tuổi, và ra Huế học Đại học Văn khoa. Mẹ ở một mình với em ở Đà Nẵng. Mỗi cuối tuần, tôi theo xe đò về thăm mẹ và em, đến sáng thứ hai trở lại trường. Ở Huế, tôi tiếp tục công việc kèm trẻ tư gia. Với số tiền nhỏ nhoi kiếm đuợc, tôi phụ mẹ một ít nuôi em.
Qua sinh nhật thứ 13 của em mấy tháng, một chiều mẹ bỏ buổi chợ, về nhà than nhức đầu, tưởng là cảm nhẹ, mẹ sai em cạo gió và nấu cho mẹ bát cháo hành. Khuya đó mẹ lên cơn sốt, lảm nhảm nói mê, sáng hôm sau em nghỉ học chở mẹ vào nhà thương và nhờ người nhắn tin ra cho tôi ở Huế.

      Lật đật trở vào Đà Nẵng bằng chuyến xe đò chót. Trời tối đã lâu, không kịp ăn uống, từ bến xe tôi đi thẳng đến bệnh viện. Trong căn phòng nhỏ, dưới ánh đèn vàng mờ đục, mẹ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, còn em đang ngồi ngủ gà ngủ gật cạnh giường. Đứng yên lặng nhìn mẹ xanh xao bất động, và khuôn mặt thơ dại của em, trong giấc ngủ hai khoé mắt vẫn còn long lanh giọt lệ, tôi nghe lòng mình quặn thắt .
      Đánh thức em dậy, em ngơ ngác dụi mắt vài giây. Nhận ra tôi, em nhào tới ôm chầm và oà lên khóc, em cho hay là từ lúc đưa mẹ vào đây, mẹ chỉ tỉnh lại một vài phút vào khoảng giữa trưa, sau đó mẹ hôn mê trở lại. Tôi an ủi em, rồi cùng em ra văn phòng bệnh viện. Cô y tá trực cho hay mẹ bị đứt một tĩnh mạch ở đầu. Tôi bàng hoàng như bị ai nện một nhát búa vào ngực. Cô y tá bùi ngùi nhìn em, đôi mắt xót xa ..
      Tối đó, anh em tôi cùng ở lại với mẹ, em mệt mỏi, nên chỉ một thoáng là đã ngủ say. Trong giấc ngủ mệt nhọc, thỉnh thoảng em ú ớ mẹ ơi, mẹ ơi rồi nức lên mấy tiếng. Tôi nghe như dao cắt trong lòng. Suốt đêm không ngủ, tôi cứ ngồi nhìn mẹ nằm im lìm và bên chân mẹ em ngủ chập chờn. Tôi tự nhủ thầm với mình đừng khóc, đừng khóc .. nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra, một tay ve vuốt bàn tay xanh xao của mẹ, một tay nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em, tôi để mặc cho hai giòng nước mắt chảy nhạt nhoà trên má.

      Mẹ thở hơi cuối cùng lúc năm giờ sáng, mẹ không tỉnh lại để trăn trối với hai con một lời gì. Mẹ đi trong yên lặng. Tôi nắm bàn tay mẹ và thấy tay mẹ lạnh dần. Tôi đánh thức em dậy. Hai anh em hôn lên trán mẹ giã từ. Em vuốt mắt mẹ. Mắt mẹ nhắm hờ. Em ôm chặt hai tay mẹ, ủ vào lòng mình miệng kêu lên nho nhỏ: mẹ ơi, mẹ ơi .. Em khóc lặng lẽ, áp mình vào ngực mẹ nước mắt em tuôn ràn rụa làm ướt đẫm cả vạt áo mẹ bạc màu . Những tiếng kêu nghẹn ngào của em như những viên đạn bắn thẳng vào tim. Tôi ngồi bất động nhìn mẹ, nhìn em, lòng đau như muối xát. Tội nghiệp mẹ tôi, tội nghiệp em tôi. Em mới mười ba tuổi ..

      Chôn mẹ xong, tôi bỏ học. Còn lòng dạ nào mà học nữa. Nhưng em thì phải trở lại trường.
Bán đi căn nhà nhỏ xiêu vẹo và gom tóm tất cả vốn liếng của mẹ để lại, tôi đưa hết số tiền cho mẹ của Minh (một người bạn thân tôi). Minh có Hân, cô em gái cùng tuổi , cùng lớp với em. Tôi gửi em đến đó ở và đi học với Hân, cũng may, bố mẹ Minh coi anh em tôi như con. Tôi dặn dò em đủ điều . Số tiền tôi gởi cho mẹ Minh đủ để trả tiền ăn ở của em trong hai ba năm. Tôi còn đưa thêm cho em một ít để em mua sách vở, may áo quần, tiêu vặt. Tôi ôm em và hứa với lòng, hứa với vong hồn mẹ là sẽ lo lắng, sẽ bảo bọc em cho đến trọn đời . Tôi vào trường Võ Bị Đà Lạt năm 20 tuổi, lương sinh viên sĩ quan ít ỏi, tôi tiết kiệm không dám xài nhiều, để dành gởi về cho em mỗi tháng. Tôi dặn em viết thư mỗi tuần kể cho tôi nghe chuyện học hành. Tôi bắt em hứa là không bao giờ dấu tôi một điều gì dù nhỏ bé. Em ngoan ngoãn vâng lời. Mỗi năm tôi được về phép một lần, hai anh em quấn quýt không rời. Tôi đưa em đi thăm mẹ. Chúng tôi lặng yên cầm tay nhau quỳ bên mộ mẹ, nước mắt lưng tròng.

      Em lớn lên và ngày càng giống mẹ. Cũng khuôn mặt và cái nhìn nhẫn nhục, cũng đôi mắt xa xăm buồn hiu hắt. Bình thường em rất ít nói, có lẽ không cha, mồ côi mẹ quá sớm và anh lại ở xa đã làm em rụt rè. Cũng may, bên cạnh em vẫn còn có Hân. Lễ mãn khoá của tôi, em và Hân cùng lên tham dự, lúc này, em đã thi đỗ vào trường Sư phạm Qui Nhơn, hai năm nửa em sẽ trở thành cô giáo, tôi hãnh diện giới thiệu em và Hân với các bạn mình. Nhìn dáng em thẹn thùng e ấp, tôi thấy lòng mình rạt rào thương em. Tôi thầm gọi mẹ, mẹ ơi, hai con của mẹ đã trưởng thành và đã nên người .

      Ra trường, tôi chọn binh chủng Nhảy Dù, có lẽ cũng chỉ vì tôi thích màu mũ đỏ. Em vào học và ở nội trú trong trường Sư Phạm. Tôi thấy mình yên tâm hơn. Mỗi tháng, tôi vẫn gửi về cho em một nửa tiền lương lính của mình để trả tiền phòng, tiền ăn. Tôi biết con gái cần nhiều thứ hơn con trai, như áo quần, son phấn .. Em vẫn viết thư cho tôi mỗi tuần như em đã làm trong mấy năm qua. Em kể chuyện học hành, chuyện bạn bè, em lo sợ là tôi đi tác chiến nhỡ có ngày bố con gặp nhau ở chiến trường, làm sao nhận ra nhau, em không nói thêm, nhưng tôi cũng hiểu, tên đạn vô tình, nếu nhỡ ..

      Hai năm em học Sư Phạm trôi qua thật nhanh. Em bây giờ đã là một cô giáo trẻ. Em được đổi về dạy tại một trường tiểu học gần thị xã Phan Rang. Em thuê nhà chung với hai cô giáo khác. Mỗi ngày ba cô giáo ngồi xe lam đi đến lớp, chiều về cả ba cùng quây quần nấu nướng . Em viết thư cho tôi và khoe có quen với Tuấn, một Sĩ Quan Hải Quân đồn trú ở Phan Rang. Em khen Tuấn hiền lành, ít nói. Em kể thêm là Tuấn chỉ còn có mỗi một mẹ già.

      Chiến tranh ngày thêm khốc liệt, đơn vị tôi hành quân liên miên, có khi cả năm chúng tôi mới được về hậu cứ một lần. Tôi bị thương hai lần trong cùng một năm. Tôi dấu em, không cho em biết sợ em lo lắng. Trong những tuần lễ nằm bệnh viện và ở hậu cứ dưỡng thương, tôi bắt đầu viết bài đăng trên các báo và tạp chí. Tôi kể lại những trận đụng độ kinh hoàng giữa đơn vị tôi và giặc Cộng, tôi kể lại những “kỳ tích” của bạn tôi, của Mễ, của Lô ..

      Sau một lần bị thương nhẹ ở tay, tôi lấy mấy ngày phép ra Phan Rang thăm em. Em mừng rỡ ôm lấy anh, nhưng khi thấy cánh tay băng bột em xót xa bật khóc. Tôi an ủi em là biết đâu sau chuyến bị thương này tôi sẽ được về làm việc hậu cứ. Ngày hôm sau, nghe tin, Tuấn đến thăm . Thoạt nhìn, tôi đã có cảm tình với Tuấn, đúng như em nói, Tuấn trông rất hiền lành. Trong suốt tuần lễ ở Phan Rang, em vẫn phải đi dạy, nhưng may là có Tuấn, mỗi ngày Tuấn tới chở tôi đi ăn sáng, trưa Tuấn và tôi lang thang ra chợ bạ gì ăn đó đợi giờ ba cô giáo đi dạy học về. Buổi tối, em đi ngủ sớm, Tuấn ngồi lại nói chuyện với tôi cho tới khuya. Bên ly cà phê, tôi kể cho Tuấn nghe chuyện của mình. Những hình ảnh yêu dấu, xót xa như một cuộn phim cũ quay chầm chậm.. Tôi rưng rưng kể lại ngày mẹ mất. Tuấn lấy tay chùi mắt, trong đêm tối, tôi thấy mắt Tuấn long lanh ..

      Bảy ngày phép cũng trôi nhanh. Tôi trở về Sài Gòn, lòng cảm thấy vui và nhẹ nhàng vì đã có dịp gặp Tuấn. Tôi tin Tuấn sẽ không làm khổ em. Ba tuần sau, tôi nhận được thư Tuấn, trong thư Tuấn kể về gia đình (mặc dù tôi đã nghe em kể trong các lá thư). Tuấn muốn tiến tới với em. Tuấn xin phép được đưa mẹ Tuấn đến gặp tôi. Tuấn hứa là sẽ săn sóc và thương yêu em. Đọc thư Tuấn tôi ứa nước mắt vì mừng. Mừng cho em may mắn không gặp những trắc trở trên đường tình ái, mừng cho em gặp được một người chồng hiền hậu. Tôi viết thư cho em và Tuấn, bảo hai em lo thế nào cho tiện, chỉ cố làm sao cho giản đơn vì cả hai đứa cùng nghèo . Bốn tháng sau, Tuấn và em làm đám cưới, nhà gái ngoài tôi còn có thêm mấy thằng bạn trong đơn vị, ông hiệu trưởng, thầy cô giáo và rất đông học trò. Nhà trai ngoài mẹ Tuấn, mấy gia đình anh chị họ còn thêm một số bạn bè Hải Quân cùng đơn vị. Nhìn em súng sính trong bộ đồ cưới , tươi cười đứng bên cạnh Tuấn, tôi gọi thầm mẹ ơi, mẹ ơi, về đây dự đám cưới của em. Tôi theo đơn vị lội thêm hai năm nữa ở vùng giới tuyến, thì “tai nạn” xảy ra. Trong một lúc nóng giận vì thấy ông xếp của mình sao ngu và bẩn quá, tôi không giữ được lời và đã xúc phạm đến ông, kết quả là tôi bị đưa ra hội đồng kỷ luật và tống ra khỏi binh chủng Nhảy Dù.

      Sau một thời gian ba chìm bảy nổi, tôi đổi về cục Tâm lý Chiến, thời gian này tôi đã khá nổi tiếng , những bút ký chiến trường về Tết Mậu Thân, Bình Long, An Lộc .. đã làm vinh danh binh chủng cũ của tôi. Tôi được giải thưởng văn học với bút ký “Mùa hè đỏ lửa”. Tiền thưởng và tiền bán sách tôi gửi hết cho em. Tuấn và em dùng tiền này mua được một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Phan Rang, gần trường em dạy.
      Mới ngày nào đó còn thẹn thùng nấp bên vai Tuấn mà bây giờ em đã mấy con. Mỗi dịp rảnh rỗi tôi lại ra Phan Rang ở chơi với em, với cháu. Tôi ôm cháu, hôn vào hai má phúng phính, hít vào phổi mùi thơm của trẻ thơ mà thấy lòng mình dịu lại, những cay đắng, cực nhọc của đời theo tiếng cười lanh lảnh dòn tan của cháu mà bay xa, bay xa. Tôi nhìn hai vợ chồng em, nhìn bầy cháu nhỏ lẫm chẫm quây quần bên chân mẹ mà lòng vừa vui mừng vừa hãnh diện. Tôi ao uớc mẹ tôi nhìn thấy được cảnh này.

      Biến cố tháng 4/75 tới như một định mệnh oan nghiệt, cả Tuấn và tôi đều phải ra trình diện cải tạo. Em ở lại một mình với một bầy con nhỏ, đứa lớn nhất chưa đầy sáu tuổi và đứa nhỏ nhất còn nằm trong bụng mẹ. Trong trại, tôi cứ đứt ruột nghĩ về em và bầy cháu nhỏ. Mẹ của Tuấn đã quá già, làm sao lo phụ với em đây. Rồi em còn phải lo lắng về số phận chồng, số phận anh. Tôi quay quắt như ngồi trên đống lửa, tôi nghĩ đến lời hứa với vong hồn mẹ hôm nào mà lòng đau như xé, con đã thất hứa với mẹ, mẹ ơi, con đang ở đây tù tội thì làm sao lo được cho em ..
      Năm 76 tôi bị đưa ra Bắc. Tôi mất liên lạc với em và Tuấn từ tháng 5/75. Làm sao em biết tôi ở đâu mà thư từ thăm gửi.. Không biết em có biết Tuấn ở đâu không, trại tù mọc lên như nấm từ Nam ra Bắc. Hồi còn ở trong Nam, từ Trảng Lớn, qua Suối Máu, đâu đâu tôi cũng cố dò hỏi tin Tuấn nhưng vô hiệu. Tù nhân đông quá ..

      Trại cải tạo Sơn La, sau đợt cho viết thư về gia đình đầu tiên, ba tháng sau tôi nhận được thư em. Thư em đến tay tôi vào giữa năm 77. Hơn 2 năm 1 tháng tôi mới nhìn lại nét chữ của em. Run run bóc thư, mắt tôi cay nồng, nhạt nhòa. Em cho hay là Tuấn đang cải tạo ở Long Thành, Tuấn có thư về và cho biết vẫn bình an, mẹ Tuấn dạo này yếu lắm vì cụ đã quá già, em vẫn đi dạy, hai cháu nhỏ ở nhà với bà nội, hai cháu lớn theo mẹ vào trường, em cho hay đứa con gái út em đặt tên Tâm, Trần thị Minh Tâm, cháu sinh ngày 12 tháng 9 năm 75, gần 4 tháng sau ngày bố cháu và bác cháu vào tù.

      Gần cuối thư, em báo tin là bố còn sống và hồi đầu năm 76 có tìm đến gặp em, làm sao bố tìm ra địa chỉ thì em không biết, nhưng hôm ấy bố đến, bố tự giới thiệu tên mình. Em ngỡ ngàng, ngày bố ra đi em mới tròn ba tuổi, hơn hai mươi năm sau gặp lại làm sao em nhận được, bố xoa đầu đám cháu ngoại đang trố mắt nhìn người đàn ông lạ, bố hỏi về anh, về Tuấn, khi em hỏi lại bố là làm sao để biết anh và Tuấn đang bị giam giữ ở trại cải tạo nào, bố lắc đầu không nói gì. Bố cho hay là bố đang có gia đình ở Bắc, ngoài ấy bố có thêm hai trai và hai gái. Đứa trai lớn nhất thua em bốn tuổi.
      Bố mang vào cho em hai mươi ký gạo và một chục cam. Bố ở chơi một ngày rồi bố trở về Hà nội. Lúc bố về em có tặng bố cái radio-cassette của anh cho ngày nào. Bố thích lắm, bố hứa sẽ đến thăm anh trong trại tù. Từ hồi trở ra Bắc đến giờ bố chưa liên lạc lại với em, và em cũng không có địa chỉ của bố ở ngoài ấy. Tôi đọc thư lòng thấy phân vân, tôi cũng như em, không hình dung ra nổi bố tôi hình dáng mặt mũi ra sao, hai mươi mấy năm, tôi tưởng bố tôi đã chết.

      Tháng 12 năm 77, tại trại cải tạo Sơn La, bố đến thăm tôi .
Đứng trong văn phòng viên sĩ quan trưởng trại một người đàn ông trung niên, tóc muối tiêu và gương mặt xương. Bộ áo quần dân sự khá thẳng thớm, và sự lễ phép của tên đại úy trưởng trại tiết lộ về địa vị không nhỏ của người này. Thấy tôi vào, viên trưởng trại quay qua nói nhỏ một câu gì đó rồi bước ra ngoài. Tôi im lặng đứng nhìn người đàn ông xa lạ ..
      Bố đến bắt tay tôi, tự xưng tên mình, bố gọi tôi bằng anh, bố kể là đã gặp em ở Phan Rang, bố hỏi tôi học tập thế nào, bố không hề nhắc đến mẹ, có lẽ ông đã biết về cái chết của mẹ. Bố nói là có đọc văn tôi.. Tôi ngồi yên nghe bố nói, sau cùng , bố đứng dậy, móc trong xách ra một gói nhỏ bảo đó là đường và thuốc lá, trao cho tôi, khuyên tôi cố gắng học tập tốt để sớm được khoan hồng. Tôi nhìn vào mắt bố, lòng thấy dửng dưng. Tôi bắt tay bố rồi về lại lán mình. Đó, cuộc hội ngộ của bố con tôi sau hơn hai mươi năm là thế đấy. Chắc cuộc tái ngộ giữa bố với em cũng tẻ nhạt như thế. Có cái gì đó ngăn cách, có cái gì đó phân chia, có cái gì đó tôi không hiểu và không diễn tả được. Bây gi tôi hiểu vì sao cái tin quan trọng đến thế mà em lại chỉ đề cập một cách ngắn ngủi ở cuối thư.
      Lần đó là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi gặp bố trong suốt 13 năm lang thang trong các trại tù biệt giam miền Bắc.

      Tháng 12/78, chuyển trại lên Yên Bái, tôi nhận thêm được hai lá thư của em, trong bức thư gần nhất, em viết vào tháng 8/78. Em cho hay tình trạng rất khó khăn, phụ cấp đi dạy không đủ nuôi một mẹ già và bốn con thơ, em đã bán lần mòn hết những đồ trang sức và luôn cả những đồ vật trong nhà. Em vẫn chưa đi thăm nuôi Tuấn được một lần nào. Không thể để bốn cháu nhỏ ở nhà cho bà Nội vì cụ bây giờ đã quá yếu, mỗi buổi ăn, Uyên, cháu lớn phải đút cho bà. Ngoài ra, mỗi tối, từ lúc chạng vạng em và Hoàng, hai mẹ con phải ra đầu ngõ, ngồi bán bắp nướng đến khuya để kiếm thêm tiền đong gạọ.  Em than là dạo này mất ngủ, sức khoẻ yếu lắm, em sợ nhỡ có mệnh hệ nào ..

      Tôi thẫn thờ cả buổi vì bức thư em, ngày xưa tôi chỉ lo cho có mỗi mình em, còn bây giờ em phải lo cho bốn đứa con thơ và một mẹ già, kể luôn người chồng và ông anh đang tù tội là bảy, bảy cây thập giá đời đang đè nặng lên đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của em. Tôi viết thư về an ủi , khuyên em cố gắng, tôi vỗ về em là có thể Tuấn sẽ được tha về sớm với em, với cháu, vì Tuấn đi hải quân và lon còn thấp, không có tội với cách mạng nhiều. Rồi tôi viết thêm cho em hai ba lá thư nữa mà vẫn không thấy hồi âm. Lòng tôi cồn cào, nóng như lửa đốt, những ngày dài tù tội, tôi không nghĩ đến cái đói, cái khổ của mình mà chỉ nghĩ đến em và mấy cháu, không biết giờ này, em và bốn cháu thơ dại đang có gì ăn ?
      Tháng 6/79, một sáng trên đường lên rừng đốn nứa, tôi nghe loáng thoáng câu chuyện giữa các bạn tù. Họ nghe từ các bà vợ đi thăm nuôi kể lại, rằng ở Phan Rang có một chị có chồng đang đi cải tạo, chị chết đi, để lại bốn con thơ, đứa bé nhất mới lên ba, còn đứa lớn nhất chưa đầy chín tuổi. Tội nghiệp, họ hàng nội ngoại không có một ai. Tôi bỗng dưng thấy lạnh toát cả sống lưng, lại gần hỏi thêm thì người bạn tù cho hay là nghe nói chị ấy làm nghề cô giáo, có chồng sĩ quan hải quân đang đi tù cải tạo ở đâu đó trong Nam. Nguời chồng, trung úy hải quân trước cũng đóng ở Phan Rang. Trần Nguyên Tuấn, Hải Quân Trung Úy Trần nguyên Tuấn . Tôi thấy đất trời đảo lộn, tôi thấy mặt trời nổ tung trong óc, tôi hụt hơi, miệng há hốc đứng như trời trồng giữa núi rừng Yên Bái, bên cạnh tôi tiếng nguời nói lao xao. Tôi không nghe gì hết, tai tôi lùng bùng, mắt tôi mờ đi, tôi đang nhìn thấy xác em nằm co quắp trên manh chiếu, bốn đứa cháu của tôi, cháu Minh Tâm chưa đầy ba tuổi đang lấy tay lay lay xác mẹ, cháu lớn Thu Uyên chưa đủ chín tuổi đang ôm chân mẹ khóc lóc ủ ê, hai đứa kia, Hoàng và Châu ngơ ngác đứng nhìn. Trời tháng 6 mùa hè Yên bái mà sao tôi thấy thân mình lạnh buốt. Tôi tê dại, tôi hoá đá, tôi không còn cảm xúc, tôi muốn hét lên cho tan vỡ cả vũ trụ này. Trong lung linh màu nắng vàng buổi trưa Yên Bái, tôi thấy bóng em nhập nhoà, chập chờn. Em của tôi, đứa em côi cút của tôi .. Mũi súng AK thúc vào cạnh sườn, người vệ binh chắc cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng tôi đứng như trời trồng giữa lộ. Anh quắc mắt nhìn tôi dò hỏi, tôi không nói gì, im lặng nhập vào dòng tù. Nước mắt chảy dài trên hai má hóp, tôi bước đi như kẻ mộng du ..

Bé

Năm em tôi lên ba 
Ðã chịu đời xa bố 
Mẹ tất tả thân mòn 
Nuôi con bao vất vả 
Ðời thiếu nữ lớn lên 
Ðắng cay thêm tủi hổ 
Áo vá bạc vai gầy 
Tuổi thơ sôi cuồng nộ. 
Mẹ mất năm mười-ba 
Thảm thiết sao kể xiết 
Cố nuôi em từng ngày 
Khốn khó dài biền biệt. 
Bạn học những tỵ hiềm 
Thầy, cô nặng trì siết 
Em vây chặt buồn phiền 
Tuổi học trò thua thiệt 
...... 
Tôi đi làm lính chiến 
Trôi nổi chốn trận tiền 
Em một mình côi cút 
Ðâu được ngày đoàn viên. 
Mong em sau lớn lên 
Tình duyên nên mãn nguyện 
Cầu em đời bình yên 
Quên xóa ngày uất nghẹn. 
Nào đâu buổi sụp vỡ 
Cảnh nước mất tan nhà 
Lâm thân sơ, thất sở 
Vây quanh khốn mù sa. 
Long Thành, chồng tập trung 
Anh ngục tù lấm nhục 
Trên quê hương lưu đầy 
Rừng rực lửa địa ngục. 
Bốn con thơ khốn cùng 
Sức người căng vượt sống 
Tư trang bán sạch dần 
Cây rừng khô lá rụng. 
...... 
Tôi đi lên miền Bắc 
Thân kiệt cùng thậm ngặt 
Nhớ thương em dãi dầu 
Nơi quê nhà bằn bặt 
Rừng núi trời vào thu 
Tù leo đồi đốn nứa 
Bên đường đèo nghỉ đỡ 
Nghe chuyện buồn thương tâm 
"..Người chồng đi tập trung 
Vợ ở nhà chết thảm 
Bốn con nhỏ khốn cùng 
Quay quắt bên thây cứng!!" 
Những tưởng nghe nhầm tai 
Giật mình gào hỏi lại 
Ôi xiết bao kinh hãi 
Ðúng tên chồng em gái?! 
Chuyện những Ðồi Hoa Sim 
Nay một lần lập lại 
Không chết người ngục tù 
Một mình em oan trái! 
Tôi bật khóc trên đồi 
Nhìn khoảng không vần vũ 
Có còn không.. Ðất, trời!! 
Mây mang mang kéo lũ 
Rừng chập chùng lá đổ 
Sương dầy vây khói xanh 
Thật hay không đấy hở?! 
Tạo Hóa nghiệt cùng đành! 
Cháu tôi ai nuôi đây? 
Bé nhất chưa biết nói 
Chịu sao nổi đọa đày 
Giữa trùng vây khổ đói 
...... 
Năm năm ngày giỗ em 
Cấm phòng ngồi gục mặt 
Nhói đau trũng ngực nặng 
Em chết thật sao Khanh? 

Phan Nhật Nam