Thứ Tư, 30 tháng 6, 2021

Trên Cánh Đồng Hoa Mỹ Nhân - Coquelicot


Coquelicot đỏ trên đồng
Nemours sản xuất kẹo hồng tên hoa
Tiếng đồn vang khắp gần xa
Hiếu kỳ mua tặng làm quà thân nhân





Thơ & Ảnh: Huỳnh Phương Trạch
Hoa Coquelicot vùng Nemours, thuộc Nước Pháp


Thứ Hai, 28 tháng 6, 2021

Quê Hương Tôi


Tôi và em chạy trên cánh đồng vừa gặt
Những gốc rạ khô bối rối dịu dàng
Ta cùng thả cánh diều bay mỏi mắt
Khói bếp chiều quê dìu dịu lan man…

Con nghé bên kia vừa hí tiếng lạc đàn
Như tuổi thơ tôi đi vào ngõ cụt
Rẫy bắp giồng khoai chiều lên ray rức
Em lạc hồn vào ký ức mùa Đông.

Quê tôi bây giờ không còn cánh diều ngoài đồng
Không còn khói bếp mái tranh nghèo lan tỏa
Con đường tráng nhựa không còn hơi đất thở
Cũng như em không còn trên đồng cỏ chiều nay.

Tôi trở về hai bên đường hoa lá thở dài
Nấm mồ Mẹ im lìm bên đường cao tốc
Mất Mẹ mất em tôi rưng rưng bật khóc
Mất quê hương tôi cô độc cả tâm hồn.

Dương Hồng Thủy

 

 


Chủ Nhật, 27 tháng 6, 2021

Chuyện Đời



Nhìn sao đêm tưởng đang mộng mị
Cuộc sống nầy bình dị mấy khi
Một cõi một thân đời bỏ thí
Ngày qua tháng lại chẳng ai bì

Chữ nghĩa nọ không chi diễn tả
Ai người gởi hạnh phúc đến ta
Trông chờ mong đợi tin lời thật
Trao đổi vài câu chuyện ấy mà

Nguyễn Cao Khải



Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2021

Những Mẫu Chuyện Khó Tin Nhưng Có Thật: Chiếc Dùi Trống


    Vào tháng giêng năm 1935, thầy giáo Nhân bên nhà xứ sang thăm cha mẹ tôi, thấy tôi trắng trẻo, đẹp trai, có vẻ thông minh, liền nói với cha mẹ tôi cho tôi đi tu. Hồi đó tôi chưa hiểu rõ cuộc đời tu là thế nào; chỉ biết cha mẹ tôi khuyên tôi nên đi vào nhà xứ ở với các cha cho đỡ khổ, thế là tôi nghe theo.

     Vài tuần sau, thầy giáo Nhân đưa tôi xuống xứ Đồng tỉnh, Hải dương, ở với cha Trang. Bấy giờ tôi mới biết cấp bậc trong nhà xứ: Trên có cha xứ, nếu xứ nào có nhiều giáo dân thì có thêm một hay hai cha phó; kế đến các thầy kẻ giảng,chuyên dạy bổn cho các họ đạo tân tòng; rồi tới các chú lớn, chuẩn bị học lên chức thầy; sau cùng là các cậu giúp lễ, lớp tuổi từ chín cho tới mười lăm. Năm đó tôi vừa đúng chín tuổi, được xếp vào hạng cậu giúp lễ, gồm có bốn tên: Nhân, Hạnh, Hậu, Pháp; vì đi tu, cha xứ đổi tên tôi là Thạch sang Hạnh. Tôi mang tên này cho tới bây giờ.

     Công việc hằng ngày của bốn chúng tôi: các sáng chia nhau giúp lễ, quét giọn nhà cửa rồi đi học. Tôi còn nhớ, hồi đó chú Hoàng lo việc dạy học tại trường nhà xứ; lúc dạy học chú thường dùng chiếc dùi trống, thay cho roi, để đập vào đầu trò nào làm bài sai. Dùi trống dài khoảng ba gang, hai đầu tròn như hai quả trứng. Một hôm vào giờ toán, đang lúc tôi để ý viết mấy con số thì chú tới, giáng vào mé đầu tôi một cái (có lẽ vì tôi viết số sai), tôi giật nẩy người, đầu dùi trống lướt sang trán của trò ngồi bên, làm sưng lên một cục, đỏ chót như trái nhót; chú tức giận giáng mạnh thêm giữa đầu tôi một cái nữa. Lúc đó tôi thấy tê hẳn cả đầu! Không hiểu tại sao bấy giờ đầu tôi không bể ra làm hai? Phải chăng đầu tôi thuộc loại cứng? Hay vì “cha mẹ sinh ra tuổi cứng đầu?”. Sáng hôm sau cha xứ trông thấy thằng nhỏ bị sưng trán, đi học ngang qua, hỏi lý do, nó liền kể đầu đuôi câu truyện. Nghe xong cha xứ, gọi ngay chú Hoàng lên, la mắng một hồi, rồi bắt chú phải mang dầu, xoa bóp cho thằng bé, và sang nhà xin lỗi cha mẹ nó.

     Kỳ hè năm ấy cha xứ cho làm một chòi lá ở góc vườn, cạnh nhà bếp, để dựng chuồng lợn (heo); trưa hôm đó, cơm nước xong, bốn nhỏ giúp lễ chúng tôi không được ngủ, phải đi lấy rơm nhào với bùn, đem lại cho mấy chú lớn trát vách. Tối đến, vào nhà thờ đọc kinh, bốn đứa chúng tôi thi nhau ngủ gật; cha xứ đã nhiều lần nắm tay, cốc vào đầu chúng tôi, nhưng bốn đứa vẫn không sao hết ngủ! Tức quá, cha xứ liền túm cổ từng thằng, ném ra ngoài sân; đóng cửa lại, không cho vào nhà thờ nữa. Mất đà, chúng tôi lăn như bốn khúc gỗ trên sân cát! Lổm ngổm bò dậy, bước vào nhà, run sợ, chờ đợi trận đòn lôi đình tới. Rất may, giờ kinh vừa xong, có một ông khách ở xa tới thăm cha xứ; vì bận tiếp khách nên cha đưa roi cho chúng tôi, bảo phải sang bên phòng các thầy, lãnh mỗi đứa ba roi. Trời về khua, các thầy ai nấy đã buông mùng, lên giường nằm cả rồi; tôi còn nhớ lúc đó thầy Long, vén mùng lên, ngồi trên giường, tôi nằm dưới đất, thầy vừa đánh tôi roi thứ ba thì cha xứ tới, thấy vậy, cha la lên, bắt thầy phải xuống giường, đánh lại! Hôm sau, thầy gọi tôi vào phòng, cho tôi tấm ảnh hình Chúa và nói, “Bồi thường cho Hạnh vì trận đòn hôm qua nhé!.”Tôi cám ơn thầy, vội chạy ra ngoài, sợ cha xứ trông thấy, lại bị đòn nữa thì chết.

Thạch Trong(NĐH) 

 

Thứ Ba, 22 tháng 6, 2021

Thuyền Tử Hòa Thượng Kệ 船子和尚偈


Tải Nguyệt Minh Quy - Thơ Thiền
Bài thơ nầy vốn có tựa là " THUYỀN TỬ HÒA THƯỢNG KỆ " 船子和尚偈, vì Đức Thành Thiền Sư, người gốc Tứ Xuyên, là một cao tăng ở cuối đời Đường, thọ pháp với Dược Sơn Duy Nghiêm Thiền Sư. Ngày thường ẩn cư ở Tú Châu Hoa Đình, làm nghề đưa đò ở bến đò Ngô Giang, thường thả một lá thuyền con trôi theo dòng nước, tùy duyên mà độ nhật, nên người đời mới gọi là THUYỀN TỬ HÒA THƯỢNG 船子和尚 (là Hòa Thượng Chèo thuyền), còn có hiệu là Hoa Đình Hòa Thượng 華亭和尚. Sư soạn 39 bài PHẤT TRẠO CA 撥棹歌 (Bài ca Chèo Thuyền ) ca ngợi đời sống của Ngư dân nhưng lại ngụ Thiền lý trong các lời ca đó.
Dưới đây là bài thứ nhất trong 3 bài Thất Ngôn tuyệt cú, là bài kệ có ý Thiền được nhiều người biết đến nhất:

千尺絲綸直下垂,
一波才動萬波隨;
夜靜水寒魚不食,
滿船空載月明歸。

Thiên xích ty luân trực hạ thùy,
Nhất ba tài động vạn ba tùy
Dạ tĩnh thủy hàn ngư bất thực,
Mãn thuyền không tải nguyệt minh qui!

NGHĨA BÀI THƠ:
Bài Kệ của Hòa Thượng Chèo Đò
Sợi tơ nhợ câu cá ngàn thước buông thẳng xuống dưới nước, nước bèn nổi lên một dợn sóng, và dợn sóng nầy lan tỏa thành muôn vạn dợn sóng khác tỏa rộng ra. Đêm yên ắng, nước lạnh căm, nên không có cá cắn câu, đành chở đầy một thuyền trăng trống không mà về !

CHÚ THÍCH:
TY LUÂN: Dây tơ, dây nhợ, là sợi chỉ. Chữ TY là Tơ. LUÂN là Chỉ dùng để may bìa vải lại cho đừng xút xổ , mà bây giờ ta gọi là chỉ " Vắt Xổ " đó, nên LUÂN THƯỜNG là cái GIỀNG MỐI mà ta phải giữ cho cuộc sống có nề nếp.
3 chữ cuối của câu 1 là TRỰC HẠ THÙY, nghĩa là BUÔNG THẲNG XUỐNG, THÙY 垂 là rũ xuống.
TẢI: là Chở, VẬN TẢI là Chuyên chở.

Ý BÀI KỆ:
2 Câu đầu lấy ĐỘNG để tả TĨNH, động tác buông câu là động tác thật nhẹ nhàng, dây câu chạm mặt nước cũng là động tác thật nhẹ nhàng, gợn sóng phát sinh lại càng nhẹ nhàng hơn, tuy nhẹ nhàng nhưng lại lan tỏa ra thành muôn vạn dợn sóng khác, Nhất ba động, vạn ba tùy. Một Ý niệm nảy sinh, gây mầm cho muôn vạn Ý niệm khác nảy sinh, đây chính là Ý THIỀN của 2 câu thơ đầu.
2 câu thơ cuối đều qui về một chữ KHÔNG. Đêm vắng lặng, nước lạnh lẽo, cá chẳng cắn câu, tất cả là nhân tố của cái kết quả : " Chở đầy một thuyền toàn là ánh trăng mà về ! ". Thuyền đầy ánh trăng là " Sắc tức thị Không ". Ánh trăng huyền ảo mông lung đẹp đẽ nhưng lại " Không có gì cả ! ", là " Không tức thị Sắc " đó!

DIỄN NÔM:
Bài Kệ Của Hòa Thượng Chèo thuyền


Ngàn thước dây câu vừa thả xuống,
Muôn ngàn dợn sóng gợn li ti.
Đêm thanh nước lạnh không tăm cá,
Chở một thuyền trăng chẳng có chi !


LẠI DIỄN:
Ngàn thước nhợ câu thả xuống sông,
Một dợn muôn ngàn sóng lăn tăn,
Đêm yên nước lạnh im hơi cá,
Chở một thuyền về chỉ ánh trăng!

Đỗ Chiêu Đức
***
Các Bài Dịch Khác:


Chở Trăng Về


Tơ nghìn thước dây câu sông thả,
Một sóng đầu lan toả vạn sau.
Đêm yên nước lạnh cá đâu!
Thuyền không đầy ấp trăng thâu người về.


Mailoc phỏng dịch
***
Tải Nguyệt Minh Quy


Ngàn thước dây câu buông thẳng xuống
Sóng lan thành vạn sóng lăn tăn
Đêm thanh, nước lạnh, không tăm cá
Thuyền trống, đường về, đầy ánh trăng ̣


Phạm Khắc Trí
***
1)Sắc Sắc Không Không


Chỉ tơ nghìn thướt thả buông sông
Sóng tỏa một lan nối vạn vòng
Nước lạnh đêm thanh đâu thấy cá
Thuyền đầy, chở ngập ánh trăng không...


2)Chỉ Chở Trăng Không, Thấy Ngập Thuyền

Nghìn thước dây, sông thả xuống ngang
Sóng xao cứ một tỏa lan ngàn
Đêm thâu lạnh lẽo nào đâu cá
Thuyền vớt trăng không, ngập ánh vàng


Mai Xuân Thanh
Ngày 13 tháng 08 năm 2017
***
Chở Ánh Trăng Về

Sợi tơ ngàn thước thẳng buông sông
Sóng một vòng lan tỏa vạn vòng
Nước lạnh trời đêm không gợn cá
Thuyền về chở ngập ánh trăng trong.


Phương Hà
***
Chở Trăng Về


Dây câu ngàn thước thả xuôi dòng
Lan sóng truyền lan động khắp sông
Nước lạnh đêm yên mồi vẫn đấy
Đầy khoang trăng ngập cá thì không

Kim Phượng
***
Hòa Thượng Chèo thuyền


Thả một sợi câu cuộn chỉ dài
Sóng ngàn lan toả một vùng lay
Đêm yên cá nghỉ dòng say lặng
Một chiếc thuyền không ánh nguyệt đầy

Mai Thắng