Thứ Ba, 1 tháng 12, 2015

Thu Chí 1 - 秋至 (一) - Nguyễn Du


Trời sắp vào cuối thu , nằm đọc mấy bài mùa thu của cụ Nguyễn Du mà cảm thấy nao nao lòng , phải chăng lớp già chúng ta đang ngậm ngùi khắc khoải cho tuổi già bóng xế, man mác nhớ về quê hương? Mời bạn chia sẻ.
Thân 
Mailoc

Thu chí (I) *

Hương Giang nhất phiến nguyệt 
Kim cổ hứa đa sầu 
Vãng sự bi thanh trủng 
Tân thu đáo bạch đầu 
Hữu hình đồ dịch dịch 
Vô bệnh cố câu câu 
Hồi thủ Lam Giang phố 
Nhàn tâm tạ bạch âu.

*Bài thơ nầy là một trong 39 bài trong Nam Trung Tạp Ngâm thời kỳ Ông làm quan ở
Quảng Bình và Huế (1804-1814 ) Năm 1804, Nguyễn Du cáo bệnh, xin về hưu, từ quan, nhưng chỉ được có hơn một tháng thì có chỉ vua triệu vào cung giữ chức Đông các điện học sĩ, nên đành phải đi. Bài "Phượng Hoàng lộ thượng tảo hành" làm lúc lên đường trẩy kinh (tháng giêng năm Ất Sửu, 1805). 

Dịch Nghĩa:
Thu Tới 1

Sông Hương một mảnh nguyệt 
Xưa nay gợi không biết bao nhiêu mối sầu 
Chuyện cũ chạnh thương mồ cỏ xanh 
Thu mới tới trên đầu tóc bạc 
Có hình nên phải chịu vất vả 
Không bệnh mà lưng vẫn khom khom 
Ngoảnh đầu trông về bến sông Lam 
Lòng nhàn xin tạ từ chim âu trắng

Dịch Thơ: 
Thu Tới 1

Dòng sông Hương một vầng trăng sáng,
Từ cổ kim lai láng tơ sầu .
Mộ xanh chuyện cũ rầu rầu,
Ngập ngừng thu tới mái đầu hoa râm.
Mang hình hài xót thân vất vã,
Chưa bệnh hoạn lưng đã khòm rồi,
Bến Lam mặt ngoảnh trông vời,
Hải âu từ tạ chơi vơi trong lòng.

Mailoc phỏng dịch
***
Thu Tới ( I )

Vầng trăng soi bóng Hương Giang
Ngàn năm khơi gợi miên man nỗi sầu
Người xưa mộ cỏ xanh màu
Sương thu dần nhuộm mái đầu bạc phơ
Xót thân dầu dãi sớm trưa
Lưng khòm gối mỏi xác xơ hình hài
Ngoái trông bến cũ u hoài
Rưng rưng tạm biệt xa bầy hải âu.

Phương Hà phỏng dịch
***
 Mùa Thu Đến...

Trăng soi vằng vặc Sông Hương,
Xưa nay gợi nhớ sầu thương hững hờ.
Mồ xanh cỏ mọc, lơ thơ,
Thu vàng lá rụng sương tơ bạc đầu.
Thân sao vất vả cơ cầu,
Bệnh gì lòn cúi khòm lâu quen rồi.
Lam giang bến cũ bồi hồi,
Hải âu chim trắng, khúc nôi tạ từ !

Mai Xuân Thanh
***
Quên Đi góp thêm phần Hán Tự.

Hán Tự Phiên Âm Hán Việt
秋至 (一)           Thu Chí (1)

香江一片月       Hương Giang nhất phiến nguyệt
今古許多愁       Kim cổ hứa đa sầu
往事悲青塚       Vãng sự bi thanh trủng
新秋到白頭       Tân thu đáo bạch đầu
有形徒役役       Hữu hình đồ dịch dịch
無病故拘拘       Vô bệnh cố câu câu
回首藍江浦       Hồi thủ Lam Giang phố
閒心謝白鷗       Nhàn tâm tạ bạch âu
秋至                                  Nguyễn Du

Dịch Thơ : Thu Tới 1

Sông Hương trăng một mảnh
Bao thuở lắm u sầu
Thương cảm về xanh mộ
Vào thu đã trắng đầu
Vì thân cam chịu khổ
Chẳng bịnh vẫn khom cầu
Ngoảnh lại sông Lam bến
Yên lòng tạ cánh âu.

Quên Đi 
***
Kính Thầy,
Đỗ Chiêu Đức tham gia với các phần sau đây :
CHÚ THÍCH :
THU CHÍ : Mùa thu đến.
HƯƠNG GIANG : Con sông chảy giữa kinh thành Huế, một thắng cảnh của tỉnh Thừa Thiên. Năm Ất Sửu (1805), Nguyễn Du được thăng hàm Đông Các Điện Học Sĩ, tước Du Đức Hầu và làm việc tại Kinh đô Huế. Nhưng lòng vẫn đeo nặng mối sầu thiên cổ.
HỨA ĐA : là Biết bao nhiêu, chỉ Rất nhiều.
THANH TRỦNG : Trủng là gò đất cao. Thanh Trủng là gò đất xanh vì cỏ mọc, thường dùng để ví với các nấm mồ.
DỊCH DỊCH : Chỉ sự làm việc vất vả như ở trong quân lữ.
CỐ : là Vì, là Cho Nên ( Chỉ lý do ).
CÂU CÂU : Chỉ lom khom như gù lưng. Làm quan luôn luôn phải giữ vẻ khúm núm như là kẻ mắc bệnh gù lưng. Vẻ khúm núm của giới quan trường.
PHỐ : Có 3 chấm thuỷ bên trái, nên Phố là Bến nước.
BẠCH ÂU : là Những con hải âu màu trắng.

Nghĩa Bài Thơ:
Mùa Thu Tới
Một mảnh trăng trên dòng Hương Giang đã khơi dậy biết bao là nỗi sầu kim cổ. Chuyện đã qua thì bi thảm như những nấm mộ xanh rì, thu mới đến thì lại làm cho bạc trắng cả mái đầu. Vì mang thân xác của con người nên luôn luôn phải làm việc cật lực vất vả. Và vì không có bệnh nên lại phải tiếp tục khúm núm trong quan trường. ( Nếu ngọa bệnh thì khỏi làm việc và khỏi phải khúm núm trước quan trên ). Quay đầu nhìn lại bến Lam Giang, ta muốn cám ơn những con chim hải âu trắng xóa đang bay lượn trên bến sông đã giúp cho lòng ta cảm thấy thanh nhàn hơn !

Diễn Nôm :
Thu Chí

Hương Giang trăng một mảnh
Khơi dậy cổ kim sầu.
Chuyện qua mồ xanh cỏ,
Thu tới khiến bạc đầu.
Vì thân nên vất vả,
Không bệnh lại câu mâu.
Lam Giang trông bến nước,
Lòng nhàn với hải âu!

Lục bát:

Hương Giang một mảnh trăng treo,
Cổ kim khơi động lòng sầu bao thu.
Chuyện qua buồn tựa cổ khâu,
Bâng khuâng thu đến bạc đầu không hay.
Mang thân nên vất vả hoài,
Quan trường khúm núm vì ai ngỡ ngàng.
Quay đầu nhìn bến Lam Giang,
Cám ơn âu trắng gợi nhàn bên sông!

Đỗ Chiêu Đức 
***
Dịch Thơ:
Thu Tới 1

Sông Hương kìa mảnh trăng treo
Sinh tình cám cảnh nặng gieo mối sầu
Mồ xưa ngọn cỏ rầu rầu
Sắc thu vừa chuyển trên đầu điểm sương
Mang thân vất vả trăm đường
Lưng còng như thể đang dường ốm đau
Bến Lam trông đến nghẹn ngào
Hải âu từ biệt nao nao cõi lòng

Kim Phượng